Ngày 20/4, lãnh đạo Sở Y tế Nghệ An cho biết số ca nghi ngộ độc thực phẩm liên quan đến bánh mì tiếp tục tăng, từ hơn 20 trường hợp ghi nhận chiều 18/4 lên 59 người vào chiều nay. Trong đó, 4 người đã xuất viện, 3 người điều trị tại trạm y tế xã, 2 trường hợp chuyển tuyến, còn lại khoảng 50 bệnh nhân đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Diễn Châu.
Các bác sĩ ghi nhận bệnh nhân chủ yếu có triệu chứng đau bụng, nôn ói, tiêu chảy, một số trường hợp sốt, nghi ngộ độc thực phẩm. Nhiều người khởi phát triệu chứng tiêu chảy muộn, đến tối hôm qua và sáng nay không khỏi mới nhập viện điều trị.
Hiện sức khỏe họ cơ bản ổn định.
Kết quả điều tra ban đầu cho thấy các bệnh nhân đều ăn bánh mì tại hai điểm bán của tiệm Quỳnh trên địa bàn xã Diễn Châu (trước đây thuộc huyện Diễn Châu). Bánh mì sản xuất tại một cơ sở chính, sau đó phân phối đến hai địa điểm trên để bán.
Đến nay chưa có kết quả xét nghiệm xác định nguyên nhân.
Liên quan vụ việc, Cục An toàn Thực phẩm (Bộ Y tế) chỉ đạo Sở Y tế Nghệ An tập trung điều trị bệnh nhân. Lực lượng chức năng khẩn trương điều tra, truy xuất nguồn gốc thực phẩm nghi gây ngộ độc, lấy mẫu xét nghiệm xác định nguyên nhân và tăng cường kiểm soát an toàn thực phẩm.
Sở Y tế Nghệ An đã triển khai điều tra dịch tễ, thông báo rộng rãi để người dân từng sử dụng bánh mì tại các cơ sở liên quan chủ động theo dõi sức khỏe. Người có biểu hiện như đau bụng, buồn nôn, tiêu chảy, sốt cần đến cơ sở y tế gần nhất để xử trí kịp thời.
Cơ sở bánh mì bị đình chỉ hoạt động để phục vụ điều tra. Địa phương tăng cường kiểm tra an toàn thực phẩm, đặc biệt với thức ăn đường phố, xử lý nghiêm vi phạm.
Gần đây, các tỉnh phía Nam liên tiếp ghi nhận hàng trăm người nhập viện sau khi ăn bánh mì. Ngày 3 và 4/3, 79 bệnh nhân tại phường Vũng Tàu ngộ độc do ăn bánh mì vỉa hè đường Đồ Chiểu. Trước đó vài ngày, 22 người ở TP HCM và hơn 70 người tại cơ sở Hồng Ngọc 12 (Đồng Tháp) cũng gặp triệu chứng tương tự.
Điểm chung của các vụ ngộ độc sau ăn bánh mì là số bệnh nhân tăng rất nhanh, rất nhiều, hàng loạt. Phần lớn nguyên nhân sau đó được xác định là thức ăn nhiễm khuẩn Salmonella hoặc E.coli – những vi khuẩn gây ngộ độc đường tiêu hóa.
Tại hội thảo quốc tế “Siêu âm vú 3D tự động (ABUS)” do Bệnh viện Từ Dũ tổ chức chiều 7-4, BS.CKII Trần Ngọc Hải - Giám đốc Bệnh viện Từ Dũ (TP.HCM) - cho biết ung thư vú hiện nay vẫn là một trong những bệnh lý ác tính hàng đầu ở phụ nữ trên toàn thế giới, với xu hướng ngày càng gia tăng và trẻ hóa.
Theo thống kê của Globocan năm 2022, ung thư vú là bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ Việt Nam, với hơn 24.500 ca mắc mới và trên 10.000 ca tử vong mỗi năm, chiếm tỉ lệ 28,9% trong các loại ung thư ở nữ giới.
Riêng các ca ung thư vú ghi nhận tại Bệnh viện Từ Dũ, bác sĩ Hải cho hay cũng nằm trong xu hướng chung của thế giới và cả nước.
Theo ông, việc phát hiện ung thư vú ở giai đoạn sớm giúp người bệnh có cơ hội điều trị hiệu quả và sớm quay trở lại cuộc sống bình thường. Ở giai đoạn này, nhiều trường hợp có thể được chỉ định các phương pháp điều trị bảo tồn thay vì phải đoạn nhũ.
Ngược lại, nếu phát hiện muộn khi khối u đã sờ thấy hoặc đã di căn, việc điều trị sẽ trở nên phức tạp hơn và tiên lượng kém hơn.
"Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc nâng cao hiệu quả tầm soát, chẩn đoán sớm và quản lý bệnh một cách toàn diện", ông nhấn mạnh.
Bác sĩ Hải cho rằng với phương pháp siêu âm truyền thống (2D) thường không đau, thời gian nhanh, nhưng phải phụ thuộc hoàn toàn vào tay nghề và cách đặt đầu dò của bác sĩ, dễ bỏ sót các tổn thương nhỏ hoặc nằm ở vị trí khó.
Còn chụp nhũ ảnh thì rất đau do phải ép mạnh mô vú để chụp X-quang tuyến vú (nhũ ảnh) và phụ thuộc vào kỹ thuật ép cũng như máy X-quang, quy trình phức tạp, bệnh nhân có tâm lý lo sợ…
Trong khi đó siêu âm vú 3D tự động (ABUS) được xem là bước tiến quan trọng trong chẩn đoán hình ảnh tuyến vú, cho phép khảo sát toàn bộ mô vú, tái tạo hình ảnh 3D, giúp phát hiện tổn thương tốt hơn, đặc biệt ở phụ nữ có mô vú dày, góp phần chuẩn hóa quy trình, giảm phụ thuộc người vận hành và hỗ trợ theo dõi tổn thương hiệu quả theo thời gian.
“Không có phương pháp nào thay thế được, mỗi phương pháp đều có giới hạn. Tùy trường hợp, bác sĩ có thể kết hợp linh hoạt phương pháp hay kết hợp nhiều phương pháp để đạt kết quả chẩn đoán chính xác. Với riêng siêu âm vú 3D sẽ tránh sai sót do yếu tố con người”, bác sĩ Hải nhận xét.
Theo BS.CKI Trịnh Thị Thu Thảo - khoa chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Từ Dũ, với siêu âm 2D, bác sĩ phải trực tiếp thực hiện. Trong khi đó siêu âm 3D chỉ cần kỹ thuật viên, còn bác sĩ sẽ đọc và phân tích kết quả sau. Siêu âm 3D phù hợp hơn trong triển khai tầm soát diện rộng trong cộng đồng.
TS.BS.CK2 Trà Anh Duy, Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men's Health, nói xuất tinh ngoài là cách tránh thai không tốn chi phí và tạo cảm giác chủ động. Tuy nhiên, cơ thể con người không vận hành như một chiếc đồng hồ. Khi bị lạm dụng như biện pháp chính, rủi ro không chỉ dừng lại ở một lần chậm kinh khiến cả hai lo lắng.
Bản chất của phương pháp này là cho xuất tinh ở ngoài. Sự đơn giản khiến nhiều người tin tưởng, thậm chí xem là "tự nhiên" hơn so với bao cao su hay thuốc tránh thai. Nhưng chính điều đó dễ tạo ảo giác an toàn, khi nhiều người dựa vào kinh nghiệm "trước giờ vẫn ổn" thay vì đánh giá hiệu quả thực sự.
Trên thực tế, hiệu quả của xuất tinh ngoài thấp hơn nhiều người nghĩ. Theo American College of Obstetricians and Gynecologists, trong điều kiện thực tế, khoảng 22 trên 100 người sẽ có thai trong một năm. Ngay cả khi dùng đúng cách, vẫn có khoảng 4 trên 100 trường hợp mang thai.
Nghiên cứu của James Trussell cũng cho thấy tỷ lệ mang thai khoảng 20% trong năm đầu, cho thấy phương pháp này có độ rủi ro đáng kể.
"Một hiểu lầm phổ biến là chưa xuất tinh thì không có tinh trùng", bác sĩ Duy nói. Thực tế, dịch trước xuất tinh vẫn có thể chứa tinh trùng. Nghiên cứu của Stephen Killick ghi nhận điều này, cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở việc "rút ra kịp hay không", mà còn ở yếu tố khó kiểm soát từ cơ thể.
Hệ lụy không chỉ là mang thai ngoài ý muốn mà còn kéo theo lo lắng, căng thẳng, mâu thuẫn và những quyết định khó khăn. Về lâu dài, phương pháp này tạo áp lực tâm lý cho cả hai, khiến trải nghiệm tình dục kém thoải mái, biến thành một cuộc "đánh cược".
Xuất tinh ngoài không bảo vệ bạn khỏi các bệnh lây truyền qua đường tình dục như HIV hay HPV. Nếu không dùng bao cao su, nguy cơ lây nhiễm vẫn tồn tại đầy đủ.
Phương pháp này trở nên nguy hiểm khi bị sử dụng lặp lại như lựa chọn chính, đặc biệt trong những tình huống khó kiểm soát. Chỉ một lần sai lệch cũng có thể khiến kế hoạch tránh thai thất bại, trong khi người dùng dễ hình thành cảm giác "an toàn" sau nhiều lần may mắn.
Ở góc nhìn y học, xuất tinh ngoài không phải hoàn toàn vô dụng, nhưng không đủ đáng tin để lạm dụng nếu chưa sẵn sàng có thai. Nó dễ thất bại, gây lo lắng kéo dài và không phòng được bệnh lây truyền. Trong mục tiêu tránh thai, cảm giác "chắc kịp" không thể thay thế một biện pháp an toàn hơn.