Theo TS Lê Thị Hương Giang, Bệnh viện 19-8 (Hà Nội), một bát phở nóng hổi từ lâu đã trở thành lựa chọn tiện lợi, dễ ăn của nhiều người. Không ít người duy trì thói quen ăn phở mỗi ngày, thậm chí uống hết phần nước dùng để cảm nhận trọn vẹn hương vị.
Tuy nhiên dưới góc nhìn dinh dưỡng, vấn đề không nằm ở bánh phở hay thịt, mà chủ yếu đến từ nước dùng, phần có thể chứa nhiều thành phần ảnh hưởng đến sức khỏe nếu tiêu thụ thường xuyên.
Theo các phân tích khẩu phần, một bát phở trung bình có khoảng 400-500ml nước dùng, tương đương 2,5 – 5gam muối (1.000-2.000mg natri).
Trong khi đó, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khuyến nghị người trưởng thành chỉ nên tiêu thụ dưới 5gam muối mỗi ngày.
Điều này đồng nghĩa với việc chỉ cần uống hết một bát nước phở vào buổi sáng, cơ thể đã gần như chạm ngưỡng muối khuyến nghị cho cả ngày. Đáng chú ý, vị mặn trong nước dùng thường bị “che lấp” bởi vị ngọt từ xương hầm và gia vị, khiến nhiều người khó nhận ra lượng muối mình đã nạp vào.
TS Giang cho biết thêm nước dùng ninh từ xương và thịt trong thời gian dài còn chứa nhiều hợp chất có thể ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa.
Quá trình ninh xương làm giải phóng purin, chất có thể làm tăng acid uric trong máu, từ đó gia tăng nguy cơ mắc bệnh gout nếu tiêu thụ thường xuyên. Bên cạnh đó, chất béo từ tủy và mỡ xương hòa tan vào nước dùng cũng góp phần làm tăng lượng chất béo bão hòa, yếu tố liên quan đến nguy cơ bệnh tim mạch.
Ngoài ra một số nghiên cứu còn ghi nhận khả năng xuất hiện vi lượng kim loại nặng trong nước hầm xương. Dù ở mức thấp, nhưng việc tích lũy lâu dài vẫn là điều cần cân nhắc.
TS Giang cho hay những ảnh hưởng từ nước dùng không xảy ra ngay lập tức, nhưng nếu duy trì thói quen trong thời gian dài, nguy cơ có thể tích tụ và dẫn đến các bệnh lý mạn tính như tăng huyết áp, suy thận hay tim mạch.
Chuyên gia khuyến cáo một số nhóm đối tượng cần đặc biệt thận trọng, bao gồm người mắc tăng huyết áp, bệnh tim mạch; người có chức năng thận suy giảm; người đang điều trị bệnh gout hoặc có acid uric cao và người cao tuổi.
Theo TS Giang, không cần loại bỏ hoàn toàn phở khỏi thực đơn, nhưng nên điều chỉnh cách ăn để đảm bảo sức khỏe.
“Khi ăn phở, không nên dùng hết nước dùng, chỉ nên dùng lượng vừa phải để cảm nhận hương vị. Tăng cường rau xanh để bổ sung chất xơ và hỗ trợ cân bằng natri. Hạn chế thêm gia vị như nước mắm, bột canh. Không ăn phở, bún liên tục mỗi ngày, nên đa dạng thực đơn.
Một thay đổi nhỏ trong thói quen, như không uống cạn nước phở, có thể giúp giảm đáng kể lượng muối nạp vào cơ thể theo thời gian. Trong dinh dưỡng, sự điều độ và hiểu biết đóng vai trò quan trọng, giúp mỗi người vừa tận hưởng ẩm thực quen thuộc, vừa bảo vệ sức khỏe lâu dài”, TS Giang khuyến cáo.
"Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý", TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
"Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư", ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ "cắt toàn bộ tuyến giáp" sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.
Ngày 9-4, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Đắk Lắk cho biết cơ quan y tế vừa ghi nhận 5 trường hợp bị 1 con chó nghi mắc bệnh dại tấn công tại khu phố Phú Thọ 3, phường Hòa Hiệp.
Theo báo cáo của Trung tâm y tế Đông Hòa, con chó này nặng khoảng 13kg, hung dữ, tấn công nhiều người.
Cụ thể, vào ngày 2-4, con chó này đã cắn 4 người ở phường Hòa Hiệp, 1 người ở phường Phú Yên. Đến nay cơ quan y tế xác định 4 người bị chó cắn ở phường Hòa Hiệp đã tiêm vắc xin và huyết thanh phòng dại, còn ông T.C. trú phường Phú Yên vẫn chưa tiêm.
Ngay sau khi xảy ra vụ việc, con chó đã bị người dân đánh chết và chôn tại khu phố Phú Thọ 3.
Ông Châu Trọng Phát, Phó giám đốc CDC Đắk Lắk, cho hay thời tiết nắng nóng kéo dài là môi trường thuận lợi để bệnh dại bùng phát. Bên cạnh đó, tình trạng chó thả rông, không rọ mõm khiến nguy cơ nhiều người bị chó cắn.
Điều đáng lo, theo ông Phát, đó là một số người dân khi bị chó cắn hay mèo cào thì có tâm lý chủ quan, cho là vết thương nhỏ, không nghiêm trọng nên không đi chích ngừa.
CDC Đắk Lắk đã giao các phòng chuyên môn phối hợp trạm y tế các phường Hòa Hiệp, Phú Yên điều tra, giám sát, tư vấn người dân bị chó nghi dại cắn tiêm vắc xin đủ liều, đúng lịch.
"Chúng tôi cũng đề nghị UBND các địa phương liên quan tăng cường tuyên truyền công tác phòng chống bệnh dại; thông báo rộng rãi về đặc điểm con chó nghi mắc bệnh dại để người dân bị chó cắn biết, kịp thời đến cơ sở y tế tiêm phòng. Các địa phương cũng phải tăng cường quản lý chó, mèo, đẩy mạnh tiêm phòng", ông Phát nói.
Trước đó, vào tháng 3-2026, tại thôn Thành Công, xã Ea Na, Đắk Lắk ghi nhận 6 người bị chó nghi mắc bệnh dại tấn công.
BS.CK2 Nguyễn Đức Thông, Trưởng Khoa Nội soi, Bệnh viện Nguyễn Trãi, bên lề hội nghị quốc tế cập nhật tiến bộ mới trong nội soi chẩn đoán và điều trị u ống tiêu hóa ngày 15/4, cho biết thực tế tại viện ghi nhận đa số người bệnh vẫn có tâm lý chờ xuất hiện các dấu hiệu như đau bụng, đi tiêu ra máu, thiếu máu, sụt cân... mới đi khám.
Theo bác sĩ, khi cơ thể đã "lên tiếng", bệnh thường ở giai đoạn muộn. Lúc này, dù được phẫu thuật, tế bào ung thư có thể đã di căn đến cơ quan khác, khiến tiên lượng sống giảm đáng kể.
Để giảm nguy cơ tiến triển ung thư tiêu hóa, người dân cần thay đổi thói quen, chuyển từ "đợi có bệnh mới chữa" sang chủ động tầm soát khi còn khỏe mạnh. Mốc khuyến cáo bắt đầu nội soi dạ dày và đại tràng là từ 40 tuổi. Sau lần nội soi đầu tiên, tùy kết quả, bác sĩ sẽ xây dựng lịch theo dõi phù hợp. Người nguy cơ cao như nhiễm vi khuẩn HP, viêm teo, chuyển sản ruột cần nội soi định kỳ sát hơn, khoảng 1-2 năm một lần. Đặc biệt, người có tiền sử gia đình mắc ung thư đường tiêu hóa nên tầm soát từ sớm hơn.
Nội soi sớm mang lại lợi ích lớn vì giúp phát hiện và xử lý kịp thời các tổn thương tiền ung thư. Bác sĩ Thông dẫn chứng, nhiễm HP là nguyên nhân hàng đầu gây ung thư dạ dày, có thể tiến triển qua các giai đoạn viêm teo, chuyển sản ruột và ung thư sớm. Với đại tràng, các polyp tuyến (adenoma) có nguy cơ cao trở thành khối u ác tính nếu không được phát hiện và cắt bỏ kịp thời.
Khi phát hiện polyp qua nội soi, bác sĩ có thể cắt bỏ ngay. Người bệnh gần như khỏi hoàn toàn, xuất viện trong ngày, tránh được phẫu thuật lớn và giảm nguy cơ ung thư đại tràng về sau.
Bên cạnh sự chủ động của người dân, năng lực chẩn đoán sớm của cơ sở y tế cũng đóng vai trò quan trọng. Bệnh viện đang đẩy mạnh ứng dụng các kỹ thuật hiện đại như nội soi nhuộm màu, nội soi phóng đại nhằm nâng cao khả năng phát hiện tổn thương. Nội soi siêu âm cũng được triển khai sâu hơn, giúp đánh giá chính xác khối u trong thành ống tiêu hóa, xác định lớp tổn thương để sinh thiết và lên kế hoạch điều trị.
BS.CK2 Lê Thanh Phong, Phó giám đốc Bệnh viện Nguyễn Trãi, nhấn mạnh nội soi tiêu hóa ngày càng giữ vai trò then chốt trong chẩn đoán sớm, đánh giá tổn thương và điều trị ít xâm lấn. Việc cập nhật tiến bộ y khoa và mở rộng hợp tác quốc tế là chiến lược trọng tâm nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, cải thiện chất lượng điều trị.
Tại hội nghị,PGS Osamu Dohi, Bộ môn Tiêu hóa - Gan mật Phân tử, Trường Đại học Y khoa Kyoto (Nhật Bản), đã trực tiếp trao đổi học thuật, hỗ trợ các bác sĩ trong nước hoàn thiện và nâng cấp kỹ thuật cắt tách dưới niêm mạc (ESD) lên những mức độ khó và chuyên sâu hơn.
Đây là phương pháp điều trị ung thư giai đoạn sớm qua nội soi, giúp loại bỏ tổn thương mà vẫn bảo tồn dạ dày, hạn chế biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện và giảm chi phí. Tại Nhật Bản, ESD được áp dụng rộng rãi nhờ chương trình tầm soát hiệu quả. Trước đây, người từ 40 tuổi được X-quang dạ dày cản quang rồi nội soi tầm soát hằng năm. Gần đây, khi tỷ lệ nhiễm HP giảm, Nhật Bản ghi nhận số ca ung thư dạ dày giảm dần và chuyển sang tầm soát định kỳ mỗi 2-3 năm cho người trên 50 tuổi.
Theo các bác sĩ, hiện nay nội soi gây mê đã trở nên phổ biến, giúp quá trình thực hiện nhẹ nhàng, không đau, góp phần xóa bỏ tâm lý e ngại, khuyến khích người dân chủ động tầm soát để bảo vệ sức khỏe.