Mục Lục
ToggleNăm nay, vòng chung kết Hội thi “Lớn lên cùng sách” cấp thành phố có sự tham dự của 308 học sinh. Trong đó bảng A (lớp 6, lớp 7) có 155 học sinh tham dự và bảng B (lớp 8, lớp 9) có 153 em.
Hội thi “Lớn lên cùng sách” gồm 2 hoạt động. Trong đó hoạt động 1, học sinh được trải nghiệm 16 trạm đọc và thực hiện các yêu cầu của mỗi trạm trong thời gian 55 phút. Theo đó, mỗi học sinh đóng vai là một “Đại sứ văn hóa đọc” với cuốn “Hộ chiếu đọc sách”.
Các trạm được thiết kế theo nhiều nhóm kỹ năng, từ chọn sách theo mục đích, nhận diện thể loại đến ghi chép, cảm nhận và sáng tạo nội dung. Chẳng hạn, ở nhóm trạm lựa chọn và định hướng đọc yêu cầu học sinh xác định sách phù hợp mục đích như giải trí, rèn kỹ năng, phát triển bản thân hoặc theo chủ đề cụ thể.
Trạm sáng tạo đặt ra các thử thách như ghép tên sách thành thông điệp có ý nghĩa, chọn nhân vật trong sách để kết bạn. Trong khi đó, các trạm đọc hiểu và cảm nhận yêu cầu học sinh tìm trích dẫn, ghi lại suy nghĩ hoặc dự đoán nội dung sách qua bìa.
Ở trạm 8 với thử thách “Lật trang tìm chữ”, nhiệm vụ yêu cầu học sinh ghi lại trích dẫn trong một trang sách có từ thể hiện tình cảm gia đình…
Sau khi hoàn thành hoạt động trải nghiệm, học sinh di chuyển đến Trường tiểu học Hòa Bình (P.Sài Gòn) để thực hiện sản phẩm sáng tạo (Hoạt động thứ hai), trong thời gian 75 phút.
Chủ đề của sản phẩm sáng tạo năm nay là thiết kế một “vương quốc sách” theo trí tưởng tượng và suy nghĩ cá nhân với đầy đủ tên gọi, giới thiệu các cuốn sách hay đã đọc, dùng bút chì màu để trang trí “Hộ chiếu đọc sách”.
Tại hội thi “Lớn lên cùng sách”, ông Nguyễn Bảo Quốc, Phó giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM chia sẻ cuốn “Hộ chiếu đọc sách” được phát trong hội thi lần này không chỉ là sản phẩm ghi nhận quá trình đọc của học sinh mà là kết tinh của năng lực, trí tưởng tượng và khả năng sáng tạo của mỗi học sinh, qua đó giúp các em vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết vấn đề trong thực tiễn. Mong rằng sau hội thi này, niềm đam mê đọc sách sẽ tiếp tục được lan tỏa trong học sinh, giúp các em không chỉ tiếp nhận kiến thức mà còn nuôi dưỡng tâm hồn, biết yêu thương và giàu chia sẻ.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ GD-ĐT mới ban hành Thông tư quy định mã số, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo thông tư, hệ thống mã số chức danh nhà giáo được quy định theo từng cấp học và trình độ đào tạo, gồm: giáo viên mầm non, tiểu học, trung học phổ thông, giáo viên dự bị đại học, giáo viên giáo dục nghề nghiệp các cấp, giảng viên cao đẳng và giảng viên đại học. Mỗi chức danh được phân thành ba hạng (hạng I, II, III) kèm mã số cụ thể.
Theo đó, giáo viên mầm non được xếp theo ba hạng, từ thấp đến cao lần lượt là III, II và I, tương ứng với nhóm viên chức A0, A1 và A2.2. Hệ số lương của giáo viên bậc này từ 2,1 - 6,38.
Giáo viên phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) cũng có ba hạng tương tự, nhưng ứng với nhóm A1, A2.2 và A2.1, hệ số lương từ 2,23 - 6,78.
Như vậy, chức danh giáo viên vẫn phân thành 3 hạng như lâu nay thay vì bỏ chia hạng như dự thảo được công bố trước đó.
Cụ thể, dự thảo công bố tháng 9.2025, thay vì chức danh nghề nghiệp giáo viên của từng bậc học theo hạng bằng các chức danh nghề nghiệp tương ứng với mức lương từ thấp đến cao như: giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp..., áp dụng cho giáo viên bậc học tiểu học, THCS, THPT và giảng viên CĐ, ĐH...
Khi đó, Bộ GD-ĐT lý giải thay đổi nhằm tương ứng với luật Nhà giáo mới ban hành. Một trong những điểm mới quan trọng của luật này là từ 1.1.2026 sẽ chính thức không còn chia hạng I, II, III như hiện nay, chức danh nhà giáo được xác định theo yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp trong từng cấp học, trình độ đào tạo.
Dự thảo cũng đề xuất tăng hệ số lương với giáo viên cao cấp (tương đương hạng I), từ 5,75 - 7,55 (nhóm A3.2), tăng so với mức 4,4 - 6,78 hiện tại. Tuy nhiên, theo thông tư vừa ban hành, hệ số lương của nhóm giáo viên hạng I cũng không tăng như đề xuất.
Thông tư cũng nêu các nguyên tắc bổ nhiệm và xếp lương đối với nhà giáo giảng dạy trong cơ sở giáo dục công lập.
Cụ thể, phải căn cứ vào vị trí việc làm, chức trách, nhiệm vụ, năng lực và chuyên môn nghiệp vụ đang đảm nhận của nhà giáo và theo quy định của pháp luật.
Không được kết hợp nâng bậc lương hoặc thay đổi chức danh nhà giáo, trừ trường hợp nhà giáo có sự thăng tiến nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu của chức danh nhà giáo cao hơn và có nguyện vọng thay đổi chức danh nhà giáo hiện giữ; nhà giáo có nhiều kinh nghiệm giảng dạy, giáo dục và có nhiều thành tích trong hoạt động nghề nghiệp hoặc trường hợp nhà giáo được công nhận, bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư theo quy định của luật chuyên ngành.
Không căn cứ trình độ được đào tạo để bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp cao hơn chức danh nghề nghiệp đã trúng tuyển đối với nhà giáo mới được tuyển dụng.
Trường hợp có chênh lệch giữa hệ số lương hiện giữ và hệ số lương của chức danh nhà giáo thì được bảo lưu hệ số chênh lệch theo quy định của pháp luật về tiền lương.
Việc xếp lương khi bổ nhiệm vào hạng chức danh nghề nghiệp thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số 02/2007/TT-BNV ngày 25.5.2007 của Bộ Nội vụ. Khi thực hiện chính sách tiền lương mới, việc chuyển xếp sang lương mới thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Bộ GD-ĐT cũng có quy định chuyển tiếp với giáo viên chưa đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng quy định tại chuẩn nghề nghiệp thì được tiếp tục giữ chức danh, mã số và hệ số lương của chức danh nghề nghiệp hiện hưởng. Khi đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên theo quy định của Bộ GD-ĐT thì được bổ nhiệm vào chức danh nghề nghiệp giáo viên tương ứng quy định tại thông tư này.
Tin Gốc: Thanh Niên

Theo các chuyên gia, một trong những sức hút của kỳ thi liên quan đến giá trị sử dụng kết quả bài thi này trong tuyển sinh năm nay.
Thạc sĩ Cù Xuân Tiến, Trưởng phòng Tuyển sinh và công tác sinh viên Trường ĐH Kinh tế - Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho rằng: "Một trong những nguyên nhân khiến số lượng thí sinh (TS) đăng ký tham gia kỳ thi đánh giá năng lực (ĐGNL) của ĐH Quốc gia TP.HCM năm 2026 đông kỷ lục là do nhiều trường ĐH chuyển qua sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp; trong đó, một thành phần điểm quan trọng trong phương thức này là kết quả bài thi ĐGNL". Dẫn ra ví dụ, thạc sĩ Tiến chỉ ra thực tế Trường ĐH Kinh tế - Luật cùng 7 trường thành viên khác của ĐH Quốc gia TP.HCM sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp, căn cứ trên điểm bài thi tốt nghiệp THPT, điểm học bạ và điểm bài thi ĐGNL do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức.
Thạc sĩ Tiến nhấn mạnh: "Đặc biệt điểm bài thi ĐGNL chiếm trọng số chính trong phương thức tổng hợp này". Cụ thể với Trường ĐH Kinh tế - Luật năm 2026 tỷ lệ lần lượt của 3 điểm thành phần bài thi ĐGNL, bài thi tốt nghiệp THPT, học bạ là 55 - 35 - 10%. Với năm 2027, tỷ lệ này lần lượt là 60 - 30 - 10%, từ năm 2028 trở đi tỷ lệ này là 65 - 25 - 10%. Trường hợp TS không sử dụng bài thi ĐGNL để xét tuyển vào trường thì sẽ được thay thế bằng bài thi tốt nghiệp THPT với tỷ lệ quy đổi là 1:1 cho năm 2026, 1:0,9 cho năm 2027, từ năm 2028 là 1:0,8.
"Trong khi đó, dù sử dụng phương thức xét tuyển tổng hợp nhưng trường có nhiều cách thức dành cho các nhóm đối tượng TS khác nhau. Khi đăng ký vào một ngành/chương trình, TS đủ điều kiện xét tuyển sẽ được xét đồng thời để đảm bảo cơ hội trúng tuyển cao nhất. Trường hợp TS có đồng thời kết quả thi ĐGNL và kết quả thi tốt nghiệp THPT, TS sẽ được xét theo kết quả cao nhất của 2 loại điểm này", thạc sĩ Tiến phân tích thêm về giá trị điểm bài thi ĐGNL trong xét tuyển năm nay.
Thạc sĩ Hoàng Thanh Tú, Phó trưởng phòng Thông tin - Truyền thông Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay năm 2026 trường bắt đầu xét tuyển theo phương thức xét tuyển tổng hợp kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 hoặc kết quả kỳ thi ĐGNL do ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức năm 2026 với điểm học bạ 3 năm lớp 10, 11, 12. Đối với những TS có đầy đủ cả điểm thi tốt nghiệp THPT và điểm thi ĐGNL, nhà trường sẽ xét đồng thời các phương án kết hợp và lựa chọn kết quả có lợi nhất, tức phương án cho tổng điểm cao hơn. Trong đó, hệ số dành cho kết quả kỳ thi ĐGNL hoặc kỳ thi tốt nghiệp THPT dự kiến dao động từ 0,7 - 0,9.
"Sau khi quy đổi điểm thi ĐGNL về thang điểm 30 như điểm thi tốt nghiệp THPT, trường hợp TS có điểm ĐGNL cộng với điểm học bạ cao hơn điểm tốt nghiệp THPT cộng với học bạ thì trường sẽ lấy kết quả cao hơn để xét tuyển", thạc sĩ Tú nói thêm.
Như vậy, theo thạc sĩ Tú, việc tham gia kỳ thi ĐGNL không chỉ giúp TS gia tăng cơ hội trúng tuyển vào ngành học phù hợp với năng lực và định hướng cá nhân, mà còn là dịp cọ sát, làm quen với dạng bài thi ĐGNL trước kỳ thi tốt nghiệp THPT. Qua đó, TS có thêm sự chuẩn bị về tâm lý và chiến lược, chủ động hơn trong kỳ xét tuyển ĐH.
PGS-TS Bùi Hoài Thắng, Trưởng phòng Đào tạo Trường ĐH Bách khoa (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay qua theo dõi kết quả xét tuyển tổng hợp các năm vừa qua, trường nhận thấy học lực của TS khá tương đồng với nguyên tắc tính điểm xét tuyển của trường, trong đó trọng số phần điểm thi ĐGNL chiếm cao hơn, ở mức 70%. Năm 2026, trường tiếp tục thực hiện chính sách tuyển sinh kết hợp giữa các thành phần: điểm thi ĐGNL giữ nguyên trọng số 70%, điểm thi tốt nghiệp THPT 20% và điểm học tập THPT 10%. Trong đó, tất cả các điểm toán có hệ số 2.
Đối với các TS không có điểm thi ĐGNL ĐH Quốc gia TP.HCM năm nay, theo PGS Thắng, Trường ĐH Bách khoa sẽ dùng điểm thi tốt nghiệp THPT (toán x 2) để quy đổi về thành phần năng lực để bù cho điểm thiếu. Theo đánh giá đối sánh giữa kết quả học tập với điểm thi tốt nghiệp THPT và với điểm thi ĐGNL, trường chọn hệ số quy đổi từ điểm thi tốt nghiệp THPT sang điểm năng lực là 0,75. Do đó, PGS Thắng nhìn nhận: "Các TS không có điểm thi ĐGNL cần nỗ lực cao trong kỳ thi tốt nghiệp THPT để có điểm xét tuyển tốt vào Trường ĐH Bách khoa. Nói cách khác, các TS có điểm thi ĐGNL cao sẽ có nhiều lợi thế cạnh tranh hơn trong quá trình tuyển sinh vào trường".
PGS-TS Đinh Đức Anh Vũ, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Quốc tế (ĐH Quốc gia TP.HCM), cho hay theo thông tin tuyển sinh 2026 của trường và kết quả học tập của các TS trúng tuyển vào trường các năm trước từ điểm thi ĐGNL, kết quả học tập của các TS này khá tốt. Năm nay, trường xét tuyển tổng hợp căn cứ vào điểm học lực, điểm cộng và điểm ưu tiên (nếu có). Trong đó, điểm học lực gồm 3 thành phần: điểm thi tốt nghiệp THPT 2026, điểm thi ĐGNL năm 2026 và điểm học bạ THPT nhân với các hệ số tương ứng. Trong đó, hệ số từ điểm thi ĐGNL dao động trong khoảng 40 - 50%, là thành phần điểm chiếm trọng số cao nhất. "Do đó, các TS có điểm thi ĐGNL cao sẽ có lợi thế hơn", PGS-TS Vũ khẳng định.
Tin Gốc: Thanh Niên
Giáo Dục
Chất lượng giáo dục các địa phương: Môn ngoại ngữ cần thoát khỏi lối mòn điểm số

Đây không chỉ là thay đổi cách thi, mà còn là thay đổi cách nhìn: ngoại ngữ không còn để lấy điểm, mà là năng lực thiết yếu cho giao tiếp, học tập, làm việc và hội nhập.
Trước hết, cần nhìn lại vai trò của ngoại ngữ trong bối cảnh mới. Khi tiếng Anh được định hướng là ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường, ngoại ngữ không còn là môn học riêng lẻ mà trở thành công cụ học tập. Học sinh không chỉ học để thi mà dùng ngoại ngữ để tiếp cận tri thức, học liệu và tham gia môi trường học tập toàn cầu.
Đồng thời, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi cách sử dụng ngôn ngữ. Dù AI có thể dịch, viết hay hỗ trợ học tập, người học vẫn cần đủ năng lực ngoại ngữ để hiểu đúng, kiểm chứng và làm chủ công cụ. Nếu thiếu nền tảng này, dễ rơi vào phụ thuộc, học thụ động, thậm chí lạm dụng AI trong kiểm tra.
Vì vậy, trong kỷ nguyên số, ngoại ngữ không mất đi vai trò mà trở thành năng lực cốt lõi, giúp con người giao tiếp, hợp tác và sáng tạo trong môi trường toàn cầu.
Phân tích điểm thi ngoại ngữ giai đoạn 2021–2025 cho thấy 2 giai đoạn rõ rệt.
Giai đoạn 2021–2024, khi ngoại ngữ là môn bắt buộc, điểm thi phản ánh khá đầy đủ mặt bằng năng lực học sinh, nên việc so sánh giữa các địa phương tương đối ổn định. TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa – Vũng Tàu thường dẫn đầu; Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng thuộc nhóm khá; Hậu Giang, Sóc Trăng, Quảng Nam ở nhóm thấp. Điểm trung bình 12 địa phương đạt 5,71, cao hơn mức chung cả nước 5,22, cho thấy khác biệt rõ về điều kiện và chất lượng giáo dục.
Năm 2025 tạo ra "điểm gãy" khi ngoại ngữ trở thành môn tự chọn. Dữ liệu khi đó chỉ phản ánh nhóm học sinh dự thi, không còn đại diện toàn bộ. Hệ quả là thứ hạng biến động mạnh: Hải Dương, Cần Thơ tăng hạng, trong khi nhiều địa phương giảm sâu như Bà Rịa – Vũng Tàu, Sóc Trăng, Huế. Những biến động này chủ yếu do thay đổi tỷ lệ dự thi, không phản ánh đúng chất lượng thực.
Sau khi có kết quả thi tốt nghiệp THPT năm 2025, Bộ GD-ĐT thực hiện đối sánh điểm thi với 2 hệ thống khác nhau: với 63 tỉnh, thành phố (cũ) và 34 địa phương mới sau sáp nhập 1.7.2025.
Kết quả điểm trung bình điểm thi ngoại ngữ của 6 thành phố trực thuộc trung ương như sau: Hà Nội xếp thứ nhất cả nước và Cần Thơ xếp thứ 23/34.
Đây chỉ là cách nhìn dựa trên điểm thi, còn thực chất chất lượng ngoại ngữ, cần thêm chỉ số độ phủ ngoại ngữ (tỷ lệ phần trăm học sinh thi ngoại ngữ). Tuy nhiên, đây cũng là chỉ báo ban đầu cho biết điểm thi ngoại ngữ của bộ phận học sinh dự thi môn này của 6 thành phố trực thuộc trung ương sau sáp nhập.
Từ thực tế trên, có thể khẳng định: điểm thi không còn là thước đo duy nhất để đánh giá chất lượng ngoại ngữ. Đây là xu hướng chung khi giáo dục chuyển từ tiếp cận nội dung sang phát triển năng lực, đòi hỏi một hệ thống đối sánh mới.
Trước hết, cần tách bạch hai giai đoạn dữ liệu: giai đoạn 2021–2024 dùng để đánh giá hệ thống; từ 2025, điểm thi chỉ mang tính tham khảo, không thể xếp hạng tổng thể.
Tiếp theo, cần chuyển trọng tâm từ điểm số sang mức độ phổ cập năng lực. Câu hỏi quan trọng không phải là "điểm bao nhiêu" mà là "bao nhiêu học sinh sử dụng được ngoại ngữ". Các chuẩn như A2, B1 cần trở thành thước đo chính.
Đồng thời, cần tổ chức các đánh giá diện rộng độc lập trên mẫu đại diện, đo đủ 4 kỹ năng để so sánh khách quan giữa các địa phương. Việc đối sánh cũng nên theo nhóm địa phương có điều kiện và tỷ lệ dự thi tương đồng, thay vì so sánh chung.
Cuối cùng, cần gắn kết quả đầu ra với điều kiện dạy học và môi trường sử dụng ngoại ngữ, tránh đánh giá phiến diện chỉ dựa vào điểm số.
Khi vai trò thay đổi, cách dạy và học ngoại ngữ cũng phải đổi mới. Lâu nay, việc dạy học ngoại ngữ vẫn nặng về ngữ pháp, từ vựng và luyện thi – phù hợp với mục tiêu điểm số nhưng không còn đáp ứng yêu cầu sử dụng thực tế. Vì vậy, cần chuyển mạnh từ "truyền thụ kiến thức" sang "phát triển năng lực". Học sinh phải được rèn đủ 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết trong tình huống thực, biết tư duy, giải quyết vấn đề bằng ngoại ngữ.
Điều này đòi hỏi mở rộng môi trường học tập: từ lớp học sang câu lạc bộ, dự án, hoạt động trải nghiệm, không gian song ngữ… Ngoại ngữ cần trở thành một phần tự nhiên của đời sống học đường. Đồng thời, AI phải được tích hợp như công cụ học tập: học sinh không chỉ dùng để dịch hay viết mà còn biết đặt câu hỏi, kiểm chứng và hoàn thiện sản phẩm.
Khi cách dạy thay đổi, kiểm tra – đánh giá cũng phải đổi theo. Các bài kiểm tra viết truyền thống dần mất khả năng phân loại, cần chuyển sang đánh giá năng lực thực tế như giao tiếp, thuyết trình, làm việc nhóm, dự án; kết hợp đánh giá quá trình và hồ sơ học tập.
Việc ngoại ngữ trở thành môn thi tự chọn từ năm 2025 là bước ngoặt quan trọng, giúp giảm áp lực và thúc đẩy dạy học theo năng lực. Tuy nhiên, cũng có nguy cơ học sinh giảm đầu tư, nhất là ở vùng khó khăn. Đồng thời, dữ liệu điểm thi có thể bị "lệch" do tỷ lệ dự thi khác nhau, khiến việc so sánh giữa các địa phương kém chính xác.
Sự thay đổi của kỳ thi đã cho thấy rõ: cách đo cũ không còn phù hợp với mục tiêu mới. Khi ngoại ngữ trở thành năng lực nền tảng trong kỷ nguyên số, việc đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào điểm thi là chưa đủ. Đã đến lúc chuyển từ "đối sánh điểm thi" sang "đối sánh năng lực thực", từ "xếp hạng" sang "cải thiện chất lượng".
Cần xây dựng một chỉ số đối sánh mới, phản ánh đồng thời hai yếu tố: mức độ phổ cập và chất lượng học tập. Một hướng khả thi là chỉ số ngoại ngữ tổng hợp cấp địa phương, dựa trên tỷ lệ học sinh dự thi (độ phủ) và điểm trung bình (chất lượng). Công thức đơn giản có thể là:
Thực tế năm 2025 cho thấy TP.HCM có khoảng 97.940 thí sinh, trong đó 49.328 em chọn thi ngoại ngữ, đạt tỷ lệ 50,37% (cao hơn mức chung 30,2%). Với điểm trung bình 5,69, chỉ số ngoại ngữ đạt 28,68. Hà Nội có 124.072 thí sinh, 62.203 em dự thi, tỷ lệ khoảng 50,1%, điểm trung bình 5,78, tương ứng chỉ số ngoại ngữ là 28,98. Điều này cho thấy hai đô thị lớn vẫn duy trì độ phủ ngoại ngữ cao, không chỉ là "mũi nhọn". Như vậy, chỉ số ngoại ngữ của Hà Nội cao hơn TPHCM.
Ưu điểm của cách tính này là không cho phép "đánh đổi" giữa số lượng và chất lượng. Địa phương điểm cao nhưng ít học sinh dự thi sẽ không thể dẫn đầu; ngược lại, nơi có tỷ lệ dự thi cao nhưng điểm thấp cũng khó đạt thứ hạng tốt. Muốn cải thiện, buộc phải nâng cả hai yếu tố.
Cách tiếp cận này phù hợp với yêu cầu mới: ngoại ngữ không chỉ là thế mạnh của một nhóm nhỏ mà cần trở thành năng lực phổ biến. Để tăng độ tin cậy, nên công bố đồng thời ba chỉ số: điểm trung bình, tỷ lệ dự thi và chỉ số tổng hợp, qua đó giúp nhận diện rõ điểm mạnh – yếu của từng địa phương.

