Trao đổi với Tuổi Trẻ, thượng tá Nguyễn Trung Hòa – Phó trưởng Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP.HCM – cho biết một trong những chìa khóa giúp cơ quan chức năng bóc gỡ đường dây đưa người sang Campuchia và lật mặt nhóm “hiệp sĩ” tự xưng cứu người là quyết tâm và tinh thần trách nhiệm của người chiến sĩ Công an nhân dân.
* Xin ông cho biết ngay sau khi tiếp nhận tin trình báo của mẹ bị hại bị lừa sang Campuchia bằng thủ đoạn “việc nhẹ lương cao”, Công an TP.HCM đã đánh giá tính chất vụ việc như thế nào và có những chỉ đạo ra sao để giải quyết nguồn tin?
– Ngay sau khi mẹ của bị hại đến cơ quan công an trình báo, ban giám đốc Công an TP.HCM đã chỉ đạo Phòng Cảnh sát hình sự tiếp nhận và nhanh chóng xác minh nguồn tin.
Qua xác minh nguồn tin, nhận thấy có dấu hiệu nghi vấn tội phạm, Phòng Cảnh sát hình sự đã xin ý kiến ban giám đốc Công an TP và xác lập chuyên án để đấu tranh.
Trong quá trình thực hiện chuyên án, ban chuyên án đã làm rõ, qua đó bắt, xử lý nhiều đối tượng có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản; cưỡng đoạt tài sản; mua bán người; tổ chức, môi giới cho người khác xuất, nhập cảnh trái phép…
* Vụ án này liên quan nhiều nghi can, đặc biệt có những người nổi tiếng trên mạng, điều này có gây ra khó khăn gì cho ban chuyên án trong quá trình điều tra không?
– Trong quá trình đấu tranh, ban chuyên án đã gặp không ít khó khăn. Thứ nhất, nhóm “hiệp sĩ” do Nguyễn Thanh Hải cầm đầu đã tạo dựng cho mình vỏ bọc là những người nghĩa hiệp, chuyên đứng ra “giải cứu” nạn nhân, giúp người dân, từ đó tạo được lòng tin trong người dân.
Thứ hai, trong vụ án này các đối tượng hoạt động xuyên quốc gia, ở nhiều nước, đồng thời sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi ở cả trong nước và nước ngoài, gây khó khăn cho công tác thu thập chứng cứ.
Một trở ngại khác là sau khi được “giải cứu”, nhiều nạn nhân vẫn còn tâm lý e dè, ngại làm việc với công an. Nguyên nhân là do bản thân họ khi sang Campuchia là xuất cảnh trái phép, đồng thời trong thời gian ở Campuchia từng làm việc cho các tổ chức lừa đảo, nên khi làm việc với cơ quan điều tra thì sợ bị xử lý nên việc khai báo đôi lúc chưa thật sự trung thực.
Bên cạnh đó khi lừa đảo, mua bán người hoặc đưa người xuất nhập cảnh trái phép, các đối tượng sử dụng nhiều tài khoản ngân hàng không chính chủ, liên tục chuyển tiền qua nhiều lớp trung gian, sử dụng ngoại tệ và tiền số USDT, khiến công tác truy vết dòng tiền và thu hồi tài sản gặp rất nhiều khó khăn.
* Như ông vừa chia sẻ, ban chuyên án đã đối mặt với vô vàn khó khăn, trở ngại. Vậy điều gì đã thôi thúc cán bộ, chiến sĩ quyết tâm phá án đến cùng?
– Để đấu tranh thành công chuyên án, mỗi cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát hình sự đều nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết tâm phòng ngừa và đấu tranh với mọi loại tội phạm. Riêng với chuyên án này, ban chuyên án xác định đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, nên từng cán bộ, chiến sĩ đều dốc toàn lực, quyết tâm phá án đến cùng.
* Trong quá trình chỉ đạo phá án, đâu là kỷ niệm khiến ông nhớ nhất?
– Chuyên án này để lại cho tôi nhiều kỷ niệm. Điều tôi nhớ nhất là ở giai đoạn đầu đấu tranh với Nguyễn Thanh Hải, Hải liên tục khăng khăng cho rằng mình chỉ giúp dân, “giải cứu” nạn nhân, chứ không thực hiện bất kỳ hành vi vi phạm pháp luật nào.
Tuy nhiên bằng quá trình điều tra tỉ mỉ, ban chuyên án đã từng bước làm rõ bản chất vụ việc. Trước những chứng cứ không thể chối cãi, cuối cùng Hải đã phải khuất phục.
* Qua vụ án này, ông muốn gửi cảnh báo gì đến người dân trước những thủ đoạn lừa đảo, mua bán người ngày càng tinh vi?
– Phòng Cảnh sát hình sự khuyến cáo người dân tuyệt đối không xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; tuyệt đối không tin theo những lời dụ dỗ, mời chào sang nước ngoài làm việc với hứa hẹn “việc nhẹ, lương cao”, “không cần trình độ”, “xuất ngoại thu nhập lớn”.
Bên cạnh đó người dân cần đặc biệt thận trọng với các thông tin lan truyền trên mạng xã hội, nhất là những lời kêu gọi “giúp đỡ”, “giải cứu”, hoặc các mối quan hệ quen biết qua không gian mạng có dấu hiệu bất thường. Đây là những thủ đoạn mà các kẻ xấu thường lợi dụng để tiếp cận, tạo lòng tin rồi lừa đảo, mua bán người.
Ngày 16/4, Quý, 26 tuổi, bị TAND tỉnh Cà Mau tuyên phạt 14 năm tù về hai tội Mua bán người và Cưỡng đoạt tài sản; buộc bồi thường, hoàn trả cho các bị hại gần 300 triệu đồng.
Theo cáo trạng, tháng 11/2022-10/2023, Quý sử dụng nhiều tài khoản Facebook, Zalo đăng thông tin tuyển người sang Thái Lan và Myanmar làm việc chăm sóc khách hàng online, lắp ráp linh kiện điện tử; lương khoảng 12 triệu đồng mỗi tháng, chi phí đi lại do công ty chi trả.
Tin lời quảng cáo, nhiều người được Quý hướng dẫn làm hộ chiếu, xuất cảnh. Khi đến Thái Lan hoặc Myanmar, họ bị giữ toàn bộ giấy tờ tùy thân và bị đưa vào làm việc cho các công ty do người Trung Quốc quản lý.
Công việc thực tế không đúng như cam kết ban đầu mà là lập tài khoản mạng xã hội giả để kết bạn, dụ dỗ người Việt Nam tham gia các ứng dụng đầu tư, mua hàng tích điểm nhằm chiếm đoạt tiền. Các nạn nhân bị giao KPI phải lừa được tối thiểu 70 triệu đồng mỗi tháng mới được hưởng 20% số tiền chiếm đoạt.
Nếu không đạt, các lao động bị phạt bật nhảy 100 lần mỗi ngày, bị đánh, buộc làm việc đến 2-3h sáng và đe dọa bán sang nơi khác. Ai không đồng ý làm việc phải bồi thường từ 80 đến 175 triệu đồng gọi là "chi phí" đi lại, ăn ở.
Cơ quan điều tra xác định, Quý đã đưa 17 người xuất cảnh sang Thái Lan và Myanmar để cưỡng bức lao động, trong đó có người bị chuyển giao qua nhiều công ty khác. Một số nạn nhân sau đó được trao trả về Việt Nam hoặc tự tìm cách trốn thoát.
Ngoài ra, khoảng tháng 6/2023, Quý hứa bố trí việc làm tại quán bar ở Myanmar cho Tú với mức lương 500 USD mỗi tháng. Khi sang nơi, cô gái bị giữ giấy tờ và quản lý chặt chẽ.
Gia đình Tú sau đó đã chuyển hơn 178 triệu đồng theo yêu cầu của Quý để chuộc lại giấy tờ, tránh bị bán sang nơi khác. Sau đó, gia đình tiếp tục chuyển thêm tiền để làm thủ tục cho Tú về nước. Tháng 8/2023, Tú nhập cảnh Việt Nam.
Theo điều tra ban đầu, sau khi rủ nhau bỏ nhà đi lang thang, nhóm của An từ Hải Phòng lên Hà Nội, lợi dụng sơ hở của người dân để thực hiện hành vi phạm tội.
Khoảng 16h ngày 1-4, cụ H. (96 tuổi) ngồi xe lăn được người giúp việc đẩy đi trên đường tại ngõ 295/24 đường Ngọc Thụy (phường Bồ Đề). Lúc này trên đùi cụ H. có để chiếc túi xách.
Phát hiện "mục tiêu", các nghi phạm đã nảy sinh ý định cướp giật.
Để thực hiện hành vi, Vũ Việt An tiếp cận giả vờ hỏi đường, trong khi P.M.T. bất ngờ áp sát, giật túi xách rồi cả nhóm nhanh chóng bỏ chạy.
Tiếp nhận tin báo, Công an phường Bồ Đề đã triển khai các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với Phòng Cảnh sát hình sự Công an TP Hà Nội tổ chức rà soát, truy xét các nghi phạm.
Đến khoảng 15h ngày 2-4, chưa đầy 24 giờ sau khi vụ việc xảy ra, lực lượng công an đã giữ toàn bộ các nghi phạm liên quan.
Hiện vụ việc đang được tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định.
Ngày 7-4, TAND tỉnh Tây Ninh đã mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt Nguyễn Thị Thu Hằng (36 tuổi, ngụ xã Tân Hưng, Tây Ninh) mức án 12 năm tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo cáo trạng, mẹ chồng của Hằng mở 2 dây hụi ở vùng trung tâm xã Tân Hưng từ năm 2021. Tuy nhiên do không biết chữ, mẹ chồng giao cho Hằng giữ sổ chính của dây hụi để ghi chép, theo dõi.
Qua quá trình này, Hằng nhận thấy những hụi viên gần nhà chủ yếu tin tưởng vào uy tín của mẹ chồng mà không hề đến tham gia khui hụi, không kiểm tra thực tế danh sách hụi viên.
Từ tháng 11-2021, khi được mẹ chồng giao lại làm chủ hụi, Hằng đã nghĩ ra cách ghi tên khống hụi viên vào danh sách, đến kỳ mở hụi thì bỏ thăm để lĩnh hụi bằng các tên khống này. Bên cạnh đó Hằng còn mạo tên của các hụi viên để lãnh hụi.
Hằng đã mở tổng cộng 10 dây hụi với mức đóng 2-3 triệu mỗi tháng, mỗi dây hụi đều có từ vài kỳ đến vài chục kỳ mở hụi bị Hằng dùng các chiêu trò trên để chiếm đoạt tiền.
Đến tháng 12-2023, khi tuyên bố vỡ nợ và không mở hụi nữa, Hằng đã mạo danh 66 hụi viên và dùng 16 tên khống hụi viên để chiếm đoạt gần 4 tỉ đồng của 70 người dân trong vùng.
Số tiền này Hằng đã tiêu xài hết, chỉ mới bồi thường được cho các bị hại hơn 270 triệu đồng.
Do đó bên cạnh mức án 12 năm tù, Hằng cũng phải chịu trách nhiệm hoàn trả số tiền cho các hụi viên đã bị chiếm đoạt tiền.