Trong khuôn khổ chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân, hai bên đã ký 32 văn kiện hợp tác trên các lĩnh vực hợp tác kênh đảng, công an, tư pháp, kinh tế, đường sắt, thương mại nông sản, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, hợp tác hải quan, khoa học công nghệ, dân sinh, khai thác nguồn nhân lực, truyền thông và địa phương…
Danh sách 32 văn kiện hợp tác được ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc cụ thể như sau:
1. Kế hoạch hợp tác giữa Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
2. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
3. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
4. Bản ghi nhớ về hợp tác trong khuôn khổ Sáng kiến an ninh toàn cầu giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
5. Giấy chứng nhận bàn giao hồ sơ kết quả Dự án viện trợ Việt Nam lập báo cáo nghiên cứu khả thi tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
6. Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về hợp tác và hỗ trợ hành chính lẫn nhau trong lĩnh vực hải quan.
7. Công thư về viện trợ không hoàn lại của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cho dự án Xây mới cơ sở 2 Học viện Y – Dược học cổ truyền Việt Nam giai đoạn 1.
8. Bản ghi nhớ giữa Bộ Xây dựng nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách Quốc gia nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về triển khai hợp tác đào tạo đường sắt để tăng cường năng lực cho nhân lực đường sắt Việt Nam.
9. Bản Ghi nhớ về hợp tác giáo dục nghề nghiệp giữa Bộ Giáo dục – Đào tạo nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Giáo dục nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
10. Bản ghi nhớ triển khai chương trình nghiên cứu chung Việt Nam-Trung Quốc giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
11. Bản ghi nhớ về hợp tác trong lĩnh vực công nghệ số giữa Bộ Khoa học – Công nghệ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Bộ Công nghiệp – Công nghệ thông tin nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
12. Nghị định thư về thiết lập, quản lý và vận hành đường dây nóng cấp Bộ trưởng giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
13. Bản ghi nhớ về hợp tác giao lưu văn hóa, nghệ thuật, thể thao giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
14. Bản ghi nhớ hợp tác bảo đảm an ninh, trật tự trong lĩnh vực du lịch giữa Bộ Công an nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Công an nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
15. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa về tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp dân sự, thương mại của cư dân biên giới.
16. Chương trình hợp tác 2026 – 2027 giữa Bộ Tư pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Tư pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
17. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác đàm phán thúc đẩy xây dựng Khu hợp tác kinh tế qua biên giới giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
18. Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm công tác hợp tác chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng giữa Bộ Công Thương nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Thương mại nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
19. Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu quả bưởi và quả chanh giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tổng cục Hải quan nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
20. Bản ghi nhớ về cùng thực hiện Kế hoạch hợp tác phát triển nguồn nhân lực giữa Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với Tổng Cục Hợp tác phát triển quốc tế quốc gia nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
21. Biên bản hội đàm về khảo sát hiện trường công tác nghiên cứu khả thi Dự án viện trợ Việt Nam sửa chữa, bảo trì Cung Hữu nghị Việt – Trung.
22. Thỏa thuận hợp tác giữa Đài tiếng nói Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Hãng Thông tấn Tân Hoa nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.
23. Bản Ghi nhớ về hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa theo cơ chế Diễn đàn Truyền thông và Tham vấn Phương Nam toàn cầu.
24. Bản ghi nhớ về Hợp tác thông tin giữa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Tân Hoa xã nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
25. Thỏa thuận tăng cường hợp tác Văn hóa Nghệ thuật năm 2026 – 2027 giữa Đài Truyền hình Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.
26. Thỏa thuận hợp tác giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh, Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
27. Bản Ghi nhớ về tăng cường hợp tác giữa Thông tấn xã Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Phát thanh – Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa;
28. Bản ghi nhớ hợp tác giữa Tạp chí Cộng sản Việt Nam nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
29. Bản Ghi nhớ hợp tác giữa thành phố Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và thành phố Bắc Kinh, thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa giai đoạn 2026 – 2030.
30. Thỏa thuận thiết lập quan hệ hữu nghị cấp tỉnh giữa tỉnh Phú Thọ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và tỉnh Sơn Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
31. Thỏa thuận về triển khai hợp tác bồi dưỡng cán bộ giữa Đảng ủy các tỉnh, thành phố Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hải Phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
32. Bản ghi nhớ giữa Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam và Chính quyền nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Trung Quốc về xác nhận vị trí, loại hình, thời gian mở cửa, thời gian làm việc và nâng cấp cửa khẩu song phương Chi Ma (Việt Nam) – Ái Điểm (Trung Quốc) lên thành cửa khẩu quốc tế.
Chiều 21.4, Quốc hội thảo luận tại tổ về dự án luật sửa đổi 4 luật về thuế. Hiện nay, ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh là từ 500 triệu đồng.
Tại dự thảo, Chính phủ đề xuất sửa đổi theo hướng không quy định cụ thể ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, mức doanh thu không chịu thuế giá trị gia tăng của hộ, cá nhân kinh doanh tại luật và giao Chính phủ quy định mức này.
Đồng thời, bổ sung mức doanh thu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp và giao Chính phủ quy định mức này cũng như quy định chi tiết việc miễn thuế theo đúng thẩm quyền.
Phát biểu tại tổ, Thủ tướng Lê Minh Hưng cho biết, các nội dung liên quan đến thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và thuế tiêu thụ đặc biệt đã được Quốc hội thông qua tại các dự án luật hồi tháng 12.2025, nhưng thực tiễn hiện nay cho thấy cần điều chỉnh.
Trong đó, ngưỡng thu nhập chịu thuế 500 triệu đồng đối với cá nhân, hộ kinh doanh đang bộc lộ khó khăn do tác động của giá xăng dầu và các diễn biến khu vực. Cá nhân, hộ kinh doanh cùng doanh nghiệp vừa và nhỏ là những đối tượng cần được ưu tiên quan tâm.
Trước bối cảnh trên, lãnh đạo Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính khẩn trương nghiên cứu phương án để đề xuất Quốc hội điều chỉnh cho phù hợp. "Chắc chắn phải nâng ngưỡng chịu thuế", Thủ tướng nói và cho biết, theo báo cáo của Bộ Tài chính thì ngưỡng thuế với hộ kinh doanh là khoảng 1 tỉ đồng/năm.
Song song với việc điều chỉnh ngưỡng chịu thuế để tháo gỡ khó khăn cho hộ kinh doanh, Thủ tướng cũng nhấn mạnh phải tạo sự công bằng với doanh nghiệp vừa và nhỏ, khuyến khích các cá nhân, hộ kinh doanh chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp.
Thủ tướng khẳng định các biện pháp chính sách nêu trên sẽ rất hữu ích và hiệu quả cho hộ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tuy vậy, cũng cần quy định các tiêu chí và nguyên tắc chặt chẽ, tránh kẽ hở làm thất thu thuế.
Người đứng đầu Chính phủ cho biết thêm, lẽ ra Bộ Tài chính phải có dự thảo nghị định hướng dẫn thi hành kèm theo dự thảo luật, nhưng vì thời gian gấp nên vẫn đang hoàn thiện. Dự kiến khi Quốc hội thông qua chủ trương, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ để ban hành ngay, kịp thời điểm luật có hiệu lực.
Cùng cho ý kiến, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (đoàn Hải Phòng) ủng hộ việc giao Chính phủ quy định ngưỡng doanh thu năm không phải nộp thuế hoặc không chịu thuế, nhằm tạo sự linh hoạt, tránh việc mỗi lần cần điều chỉnh lại phải chờ quy trình sửa luật, sẽ rất lâu.
Tuy vậy, bà Nga cho rằng, Chính phủ cần quy định các căn cứ để xác định ngưỡng doanh thu, đảm bảo sự chặt chẽ, kiểm soát. Căn cứ đó có thể là mức sống tối thiểu, biến động chỉ số giá tiêu dùng (CPI), đặc điểm ngành nghề hoặc chi phí tuân thủ về thuế…
Nữ đại biểu cũng đề nghị kiểm soát nguy cơ chia nhỏ doanh thu để né thuế. Bởi khi ngưỡng doanh thu trở thành căn cứ để miễn thuế, rất dễ dẫn đến tình trạng một cơ sở kinh doanh tách thành nhiều hộ, đứng tên nhiều cá nhân trong gia đình để chia điểm bán, chia tài khoản, chia hóa đơn, thậm chí chia cả giao dịch trên nền tảng số nhằm giữ doanh thu nằm dưới ngưỡng chịu thuế.
Do vậy, cần có tiêu chí nhận diện các trường hợp cùng địa điểm, cùng mô hình, cùng chuỗi cung ứng hoặc cùng người quản lý thực tế để cộng dồn doanh thu theo nguyên tắc chống chia tách giả tạo.
Đồng quan điểm, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) đề nghị Chính phủ nghiên cứu tiêu chí xác định ngưỡng doanh thu, đồng thời quy định cơ chế kiểm soát nhằm tránh nguy cơ cố tình chia nhỏ doanh thu, chia tách hoạt động kinh doanh hoặc giữ quy mô hộ nhỏ để tránh nghĩa vụ thuế.
Thực tế hiện nay có hơn 6 triệu hộ kinh doanh, trong đó hơn 1,9 triệu hộ có đăng ký. Riêng 7 tháng năm 2025 có gần 536.000 hộ thành lập mới.
Nếu thiết kế chính sách không chặt chẽ, một mặt nói là hỗ trợ tăng trưởng nhưng mặt khác lại có thể khuyến khích "phi chính thức hóa" nền kinh tế, đi ngược lại yêu cầu minh bạch.
Vẫn theo ông Sơn, việc mở rộng diện không chịu thuế giá trị gia tăng cho hộ, cá nhân kinh doanh dưới ngưỡng là phù hợp, nhưng nếu không quy định chặt chẽ sẽ làm sai lệch tính cạnh tranh và không khuyến khích các hộ phát triển lên doanh nghiệp.
Khi là doanh nghiệp, việc kê khai, khấu trừ và hóa đơn sổ sách sẽ chặt chẽ hơn. Nếu duy trì là hộ dưới ngưỡng, họ vừa không chịu thuế vừa giảm áp lực tuân thủ, vô tình tạo ra một "vùng lẩn tránh thuế" khiến người kinh doanh không muốn chuyển sang mô hình doanh nghiệp.
Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV vừa qua đã thông qua Quy định về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng (Quy định). Đây là sự cụ thể hóa "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng, gồm: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Quy định đã thể chế hóa các quan điểm của Đảng thành những quy tắc mang tính bắt buộc nhằm nâng cao nhận thức, trình độ, bản lĩnh chính trị, năng lực công tác, khả năng ứng phó các biến động của tình hình mới.
Trao đổi với Thanh Niên, trung tướng, GS Trần Vi Dân, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn nhận nếu công tác cán bộ là "then chốt của then chốt", thì công tác chính trị, tư tưởng là mở đường, đi trước vì nó giải quyết vấn đề nhận thức của đảng viên: "Tư tưởng thông suốt hành động mới đúng".
Thưa ông, tại phiên bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh việc thực hiện nghiêm túc, nhất quán "4 kiên định" về chính trị, tư tưởng và xem Quy định về công tác chính trị, tư tưởng là sự cụ thể hóa những nguyên tắc này. Ông đánh giá thế nào về tính cấp thiết của quy định này trong giai đoạn hiện nay?
GS Trần Vi Dân: Công tác chính trị, tư tưởng không phải là mới mà đã có từ những lớp học tại Quảng Châu do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ra để truyền bá tư tưởng cách mạng trước khi Đảng ra đời. Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác này luôn được coi là đi trước mở đường, đi cùng dẫn dắt và động viên khích lệ, đi sau để tổng kết.
Tuy nhiên, tại sao bây giờ lại cần một quy định riêng biệt và mang tính hệ thống như vậy? Có 2 lý do chính. Thứ nhất, trước đây các nội dung này nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau như Điều lệ Đảng, các nghị quyết, kết luận. Đây là lần đầu tiên Đảng có một quy định riêng, tích hợp và hệ thống lại một cách rõ ràng, thống nhất, tập trung để làm công cụ xây dựng Đảng vững mạnh.
Thứ hai, chúng ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với những điều kiện mới, nơi mà "thuyền to thì sóng lớn". Các nguy cơ từ năm 1994 như tụt hậu kinh tế, "diễn biến hòa bình", chệch hướng xã hội chủ nghĩa và tham nhũng vẫn hiện hữu, thậm chí diễn biến phức tạp hơn. Trong bối cảnh thế giới đầy biến động, nếu cán bộ không vững vàng về chính trị, tư tưởng thì rất dễ dẫn đến mất cảnh giác, dao động, thậm chí là "tự diễn biến".
Xin ông phân tích sâu hơn về nội dung kiên định đầu tiên: kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh?
Đây là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Chúng ta kiên định không phải là giáo điều, máy móc mà là vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu thời đại. Thực tế đã chứng minh sở dĩ chúng ta thắng được các đế quốc lớn là nhờ sức mạnh của ý chí và tư tưởng. Khi sức mạnh "cứng" (vũ khí, trang thiết bị) của ta còn hạn chế, thì chính chính trị, tư tưởng đã biến những con người bình thường thành anh hùng.
Ngày nay, giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn còn nguyên vẹn. Ngay cả các học giả tư sản phương Tây cũng có những công trình chứng minh tính đúng đắn trong các luận điểm của Mác. Việc kiên định nền tảng này giúp chúng ta không bị lạc lối trong quá trình xây dựng Chủ nghĩa xã hội, một chế độ hướng tới việc giải quyết triệt để các bất công và đem lại hạnh phúc thực sự cho con người, điều mà các chế độ khác chưa làm được.
Nội dung kiên định thứ hai được Tổng Bí thư nhắc tới là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Thưa ông, trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, mục tiêu này cần được hiểu và bảo vệ như thế nào?
Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là mục tiêu và lý tưởng của Đảng ta ngay từ khi mới thai nghén. Độc lập dân tộc là điều kiện cần, còn Chủ nghĩa xã hội là điều kiện đủ để đất nước phát triển bền vững. Cần lưu ý rằng độc lập dân tộc bao gồm độc lập cả về chủ quyền lẫn đường lối. Nếu chúng ta lơi lỏng, không kiên định, chúng ta có thể mất quyền tự chủ bất cứ lúc nào, không chỉ về chủ quyền lãnh thổ mà còn về đường lối chính trị.
Việc kiên định mục tiêu này giúp chúng ta thoát khỏi sự khủng hoảng về đường lối mà các phong trào yêu nước trước đây từng gặp phải. Trong thời đại mới, việc xây dựng Chủ nghĩa xã hội chính là tạo ra nguồn lực và sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền độc lập đó một cách tốt hơn. Hai ngọn cờ này phải luôn song hành, không thể buông lơi bất cứ phía nào.
Một điểm rất mới và quan trọng là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Ông có thể lý giải vì sao nội dung này lại được đặt ngang hàng với các nền tảng tư tưởng cốt lõi?
Điều này cho thấy sự trưởng thành vượt bậc về lý luận của Đảng. Sau gần 40 năm đổi mới, chúng ta đã hoàn thiện hệ thống lý luận về đường lối này, đủ để xác định đó là một cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng bên cạnh chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới là quá trình có tính quy luật để giải phóng sức sản xuất và khơi thông nguồn lực.
Kiên định đổi mới có nghĩa là đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc chứ không phải là sự thay đổi vô nguyên tắc. Nhờ kiên định đường lối này, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã thay đổi căn bản. Từ chỗ mong muốn thêm bạn bớt thù, phá thế bao vây cấm vận, đến nay chúng ta đã sẵn sàng là đối tác tin cậy và tham gia định hình các cơ chế quốc tế. Sự ghi nhận của thế giới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả từ những quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chính là minh chứng rõ nhất cho sự đúng đắn của đường lối này.
Nội dung kiên định cuối cùng là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì sao đây lại là chìa khóa để bảo vệ Đảng từ bên trong, thưa ông?
Các nguyên tắc như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình là điều kiện bắt buộc để Đảng luôn trong sạch, vững mạnh. Thực tế cho thấy, hầu hết các sai phạm của cán bộ dẫn đến xử lý kỷ luật thời gian qua đều bắt nguồn từ việc vi phạm các nguyên tắc tổ chức này. Kiên định các nguyên tắc này giúp giữ vững kỷ luật, kỷ cương và bảo đảm sự thống nhất về ý chí và hành động trong toàn Đảng.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng hướng tới việc để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên. Dân là gốc, dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân giám sát. Khi các nguyên tắc được công khai, nhân dân sẽ là thước đo chuẩn xác nhất để đánh giá sự gương mẫu của người đảng viên. Quy định này thực chất là để cấp ủy, đảng viên tốt hơn, gương mẫu hơn để phục vụ nhân dân tốt hơn.
Ngày 9.4, theo thông cáo của Bộ Ngoại giao, nhận lời mời của Thủ tướng Lê Minh Hưng, Thủ tướng Slovakia Robert Fico sẽ thăm chính thức Việt Nam từ ngày 12 - 14.4.
Thủ tướng Robert Fico là vị khách quốc tế đầu tiên mà Thủ tướng Lê Minh Hưng sẽ chủ trì đón trên cương vị người đứng đầu Chính phủ.
Quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Slovakia đang phát triển tích cực, hai bên đều coi trọng mối quan hệ hữu nghị truyền thống đã được xây dựng từ trước đây. Kim ngạch thương mại song phương năm 2025 giữa hai nước đạt 1.781,8 triệu USD và tăng dần qua các năm.
Tính đến tháng 12.2025, Slovakia có 16 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký là 140,87 triệu USD, đứng thứ 47/153 quốc gia và vùng lãnh thổ có hoạt động đầu tư tại Việt Nam.
Slovakia là quốc gia có nhà máy điện nguyên tử, sẵn sàng đào tạo nguồn nhân lực vận hành nhà máy điện nguyên tử cho Việt Nam, cả lý thuyết và thực hành.
Slovakia là đối tác truyền thống của Việt Nam về hợp tác về khoa học, công nghệ trong giai đoạn 1950 - 1990. Tình hình hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Slovakia tiếp tục được phát triển thông qua các hoạt động trao đổi chuyên gia, tổ chức hội thảo khoa học giữa một số trường đại học và viện nghiên cứu của hai nước
Khoảng trên 300 lao động Việt Nam đang làm việc tại Slovakia, chủ yếu trong các ngành hàn, dệt may, điện tử, sản xuất sản phẩm nhựa.
Có khoảng 10.000 người Việt Nam cư trú tại Slovakia (khoảng 70% bà con đã có quốc tịch hoặc giấy phép cư trú dài hạn của nước sở tại, 85% hoạt động kinh doanh nhỏ). Năm 2023, Chính phủ Slovakia đã chính thức công nhận cộng đồng người Việt Nam tại Slovakia là dân tộc thiểu số thứ 14.