Dự kiến từ quý 3, đầu số 113 sẽ tiếp nhận, phân loại và điều phối tất cả tình huống khẩn cấp, trong đó có cấp cứu y tế ngoại viện, áp dụng trên phạm vi cả nước.
Đến nay các đầu số trên, còn gọi là tổng đài, được áp dụng riêng cho từng nhiệm vụ. Tổng đài 115 dùng cho gọi cấp cứu. Tổng đài 114 dùng để gọi cần cứu hỏa cứu hộ. Còn tổng đài 113 tiếp nhận các cuộc gọi cần hỗ trợ an ninh. Việc thống nhất các nhiệm vụ này vào một đầu số thống nhất giúp người dân dễ dàng liên lạc khi cần hỗ trợ, cơ quan chức năng cũng dễ dàng điều hành hoạt động.
Theo lộ trình, khi tích hợp, cuộc gọi 113 sẽ được định tuyến về trung tâm chỉ huy, sau đó chuyển đến các đơn vị chức năng tại địa phương. Hệ thống được thiết kế với cơ chế dự phòng nhiều lớp, đảm bảo hoạt động liên tục 24/7.
Với các trường hợp cần cấp cứu y tế, tổng đài viên ứng dụng AI sẽ nhanh chóng chuyển thông tin tới cơ sở cấp cứu phù hợp.
“Việc thống nhất đầu số 113 được kỳ vọng giúp người dân dễ ghi nhớ, rút ngắn thời gian phản ứng và nâng cao hiệu quả xử lý các tình huống khẩn cấp trên toàn quốc”, Thượng tá Phạm Hữu Phúc, Phó Chánh Văn phòng Bộ Công an, cho biết tại hội thảo góp ý Đề án phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện giai đoạn 2026-2030, hôm 17/4.
Theo đề xuất của Bộ Công an, quá trình thực hiện tích hợp các đầu số này sẽ được triển khai theo hai giai đoạn. Giai đoạn một, tích hợp các đầu số 113, 114, 115 thành một đầu số 113 sử dụng trên toàn quốc và đặt tại Trung tâm Thông tin chỉ huy Công an 34 tỉnh, thành.
Giai đoạn hai, sau khi triển khai mô hình đầu số 113 tại Trung tâm Thông tin chỉ huy Công an 34 tỉnh, thành từ 6 tháng đến một năm sẽ tổ chức sơ kết, đánh giá để tính toán xây dựng mô hình Trung tâm 113 quốc gia.
Giai đoạn hai dự kiến có thể nghiên cứu tích hợp cả đầu số 111, 117 theo ý kiến của Bộ Khoa học và công nghệ.
Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn cho biết cấp cứu ngoại viện là mắt xích mở đầu của chuỗi cứu sống người bệnh, là nơi mỗi phút, mỗi quyết định và mỗi sự phối hợp đều có thể tạo ra khác biệt giữa sự sống và di chứng, giữa cơ hội hồi phục và mất mát không thể bù đắp. Vì vậy, phát triển hệ thống cấp cứu ngoại viện là yêu cầu chuyên môn, mang tính nhân văn, thước đo năng lực tổ chức của ngành y tế và của cả hệ thống bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 222.000 ca đột quỵ, nhưng phần lớn người bệnh chưa được tiếp cận cấp cứu kịp thời. Chỉ khoảng 23,2% bệnh nhân đến cơ sở y tế trong “thời gian vàng” 4,5 giờ đầu, và khoảng 20% được vận chuyển bằng hệ thống cấp cứu chuyên nghiệp.
“Không chỉ đột quỵ, các tình huống khẩn cấp như tai nạn giao thông, đuối nước, cháy nổ, ngộ độc hay thiên tai đều đòi hỏi hệ thống cấp cứu ngoại viện phản ứng nhanh, tổ chức bài bản và phối hợp hiệu quả hơn”, Thứ trưởng nói, thêm rằng đây là khoảng trống lớn cần được giải quyết trong đề án cấp quốc gia.
Theo kế hoạch triển khai giai đoạn 2026-2030, Việt Nam đặt mục tiêu trang bị tối thiểu một xe cứu thương/100.000 dân, đồng thời mở rộng đào tạo kỹ năng sơ cứu cho nhiều lực lượng như cảnh sát, tiếp viên, học sinh và người dân.
Trước đó, 6 địa phương thí điểm đã được trang bị 85 xe cứu thương đạt chuẩn quốc tế, mỗi xe có khoảng 380 thiết bị y tế hiện đại.
Hiện tỷ lệ xe cứu thương của Việt Nam khoảng 0,2 xe/100.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực. Năng lực cấp cứu trước viện còn phân tán, thiếu kết nối giữa điều phối, vận chuyển và xử trí ban đầu.
Bộ Y tế đang đề xuất kết hợp lực lượng y tế với phòng cháy chữa cháy nhằm rút ngắn thời gian tiếp cận hiện trường. Dự kiến ngành y tế bố trí đội cấp cứu trong bán kính 3 km ở đô thị và 6 km ở nông thôn. Đồng thời, hệ thống ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để hỗ trợ tiếp nhận cuộc gọi, phân loại tình trạng bệnh nhân, truy cập hồ sơ sức khỏe điện tử và điều phối giao thông ưu tiên cho xe cứu thương.
Vi khuẩn này lây truyền qua đường miệng - miệng là chủ yếu, trong khi người Việt Nam còn thói quen khá phổ biến dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung và gắp thức ăn cho người khác, chấm chung một chén nước chấm, uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…
Vi khuẩn Helicobacter pylori (H. pylori) dân gian gọi là HP, sống ở phần sâu lớp nhầy bao phủ niêm mạc dạ dày, và ở các vùng nối giữa các tế bào này.
Trong các nghiên cứu được công bố gần đây, khoảng một nửa dân số trên thế giới bị nhiễm vi khuẩn H. pylori nhưng hầu hết không có biểu hiện triệu chứng, trong số này chỉ có khoảng 1-2% dân số bị nhiễm sẽ tiến triển thành ung thư dạ dày.
Tại Việt Nam, tỉ lệ người nhiễm H. pylori ở các lứa tuổi khác nhau còn rất cao, trên 80%. Nếu cha mẹ bị nhiễm H. pylori, các con có tỉ lệ nhiễm trên 90%, riêng trẻ < 8 tuổi là 98,6%.Những thói quen ăn uống chưa đúng của chúng ta làm tăng nguy cơ lây nhiễm như dùng đũa hoặc muỗng đang ăn của mình để lấy thức ăn chung, chấm chung một chén nước chấm, dùng đũa/muỗng đang ăn trong miệng của mình để gắp/lấy thức ăn cho người khác; uống chung một ly rượu, bia, nước ngọt…Các thói quen khác như nhai cơm nát đút cho con ăn, dùng nước bọt đếm tiền, lật xem tài liệu... cũng làm tăng nguy cơ nhiễm H. pylori.Nhiễm H. pylori được coi là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày, loét dạ dày, loét tá tràng và bệnh ác tính ở dạ dày bao gồm: ung thư dạ dày, và u lymphoma.Các yếu tố nguy cơ khác như tình trạng viêm teo niêm mạc dạ dày, viêm teo kèm dị sản ruột (chuyển sản ruột), loạn sản (nghịch sản) có thể được coi là thương tổn tiền ung thư dạ dày.Giả thuyết về nguyên nhân sinh bệnh ung thư dạ dày là sự kết hợp của nhiều yếu tố, trong đó có vai trò của vi khuẩn H. pylori cùng với các thương tổn tiền ung thư, yếu tố môi trường, chế độ ăn có chứa các chất sinh ung, các đột biến gene…Các yếu tố nguy cơ được chia thành 4 nhóm khác nhau, bao gồm: môi trường, chế độ ăn uống - dinh dưỡng, tại chỗ và di truyền.Liên quan đến chế độ ăn uống và môi trường: thói quen ăn mặn, ăn nhiều thực phẩm như thịt, cá hun khói chứa hàm lượng nitrate cao, nguồn nước không sạch, hút thuốc lá... đều làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh.Các yếu tố tại chỗ “đóng vai trò quan trọng”, đặc biệt là nhiễm vi khuẩn H. pylori, cùng với các tình trạng bệnh mạn tính như viêm, viêm teo niêm mạc dạ dày, dị sản ruột, loạn sản, polyp tuyến dạ dày kích thước lớn hơn 2cm, hoặc tiền sử cắt dạ dày trên 15-20 năm. Nam có nguy cơ mắc bệnh cao hơn so với nữ.Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình có nguy cơ ung thư dạ dày cao hơn khoảng ba lần, và tỉ lệ ung thư dạ dày có tiền sử gia đình ở các nước châu Á cao hơn ở châu Âu và Bắc Mỹ. Bệnh viêm dạ dày phì đại, polyp tuyến dạ dày lớn hơn 2cm có nguy cơ ung thư từ 10 - 20%.Liên quan giữa ung thư dạ dày và các gene bao gồm sự kích hoạt các gene sinh ung thư và đột biến gây bất hoạt các gene áp chế ung thư có vai trò quan trọng, và có liên quan đến việc biến đổi gene ở người.Vi khuẩn H. pylori gây nhiều bệnh ở dạ dày, lây chủ yếu qua đường ăn uống và hiện chưa có vắc xin phòng ngừa, nên phát hiện và điều trị sớm là cần thiết.
Theo các đồng thuận thế giới và Việt Nam năm 2024, cũng như tại Hội nghị đồng thuận châu Á - Thái Bình Dương từ năm 2009 đưa ra ba chỉ định điều trị H. pylori liên quan đến ung thư dạ dày gồm: tầm soát và điều trị tiệt trừ H. pylori trong cộng đồng có tần suất ung thư dạ dày cao, tiền sử gia đình có người bị ung thư dạ dày, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Nhiễm H. pylori không triệu chứng hiện nay cũng cần điều trị do liên quan đến ung thư dạ dày, nhất là người sống ở vùng dịch tễ nhiễm H. pylori, tỉ lệ ung thư dạ dày cao hoặc gia đình có người ung thư dạ dày…Những người bệnh bắt buộc phải điều trị gồm: viêm dạ dày do nhiễm H. pylori, loét dạ dày - tá tràng do nhiễm H. pylori, sau điều trị các biến chứng của bệnh loét như thủng và chảy máu, u limphoma (MALTs), ung thư dạ dày, gia đình cùng huyết thống có người bị ung thư dạ dày nhiễm H. pylori, sau phẫu thuật cắt dạ dày do ung thư.Về điều trị, các phương pháp tiệt trừ H. pylori được đánh giá có hiệu quả và được khuyến cáo chỉ khi đạt tỉ lệ tiệt trừ thành công tối thiểu là 80% (theo ý định điều trị). Để đảm bảo hiệu quả điều trị, cần tuân theo các phác đồ đã được khuyến cáo, uống đủ liều, bác sĩ giải thích tác dụng phụ của thuốc... Sau điều trị kiểm tra lại bằng hơi thở hoặc nội soi dạ dày.Trong trường hợp uống thuốc nhưng không tiệt trừ được vi khuẩn (có thể do uống không đủ liều, cách uống khó khăn, tác dụng phụ của thuốc...), trong đó nguy cơ kháng các thuốc kháng sinh là quan trọng nhất.Về tình trạng tái nhiễm sau khi điều trị sạch vi khuẩn, một thời gian sau người bệnh đau bụng, đầy hơi thì cần kiểm tra nhiễm lại H. pylori. Nguyên nhân thường do tiếp tục ăn uống chung, nhai cơm mớm cho con, dùng tay thấm nước bọt khi đếm tiền hoặc lật tài liệu…Ngoài ra, những người làm nghề đặc thù như bác sĩ nội soi, nha sĩ... cũng có nguy cơ nhiễm và tái nhiễm H. pylori cao hơn do thường xuyên tiếp xúc với mầm bệnh.Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Cử nhân dinh dưỡng Mai Thị Thùy, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa Xuyên Á TP.HCM, cho biết nhiều người tin rằng nhịn ăn sáng là cách để cắt giảm calo, song thực tế, thói quen bỏ bữa hoặc ăn uống không điều độ lại chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng kháng insulin và khiến đường huyết tăng vọt khó kiểm soát vào các bữa ăn sau.
Dưới đây là những sai lầm khi ăn sáng có thể khiến đường huyết tăng vọt.
Bữa sáng thường được coi là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày và điều đó hoàn toàn có lý. Bạn đã nhịn ăn suốt đêm khi ngủ, vì vậy buổi sáng là lúc bổ sung năng lượng cho cơ thể để khởi đầu ngày mới tràn đầy năng lượng.
Bỏ bữa sáng, ăn sáng không thường xuyên có liên quan đến tăng cân và các kết quả bất lợi khác bao gồm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 và hội chứng chuyển hóa. Ngược lại, việc ăn sáng thường xuyên có thể giảm những nguy cơ này và cải thiện phản ứng glucose, insulin suốt cả ngày.
Thành phần bữa sáng cũng là một yếu tố quan trọng. Chế độ ăn nhiều carbohydrate hấp thụ nhanh có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2 cao hơn.
Hiện nhiều người có thói quen ăn sáng nhanh, tiện với thực phẩm chế biến sẵn có chỉ số đường huyết (GI) cao như: Các loại bánh ngọt, xôi, cà phê sữa, trái cây ngọt, các loại ngũ cốc ngọt không nguyên cám chế biến sẵn… khiến đường huyết tăng vọt hoặc trồi sụt sau khi ăn, gây ra những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe đã đề cập trước đó.
"Việc ăn những thực phẩm vừa nêu có thể khiến lượng đường trong máu tăng nhanh. Nhưng mọi chuyện chưa dừng lại ở đó. Sự tăng đột biến lượng đường trong máu sẽ kích hoạt tuyến tụy tiết ra một lượng lớn insulin, dẫn đến lượng đường trong máu giảm nhanh chóng. Lượng đường trong máu sau đó có thể giảm xuống quá thấp, điều này có thể khiến bạn cảm thấy run rẩy, cáu kỉnh hoặc đói cồn cào chỉ sau 1 hoặc 2 giờ. Đây là tình trạng được gọi là hạ đường huyết phản ứng", cử nhân Mai Thị Thùy chia sẻ.
Điều quan trọng cần nhớ là thỉnh thoảng ăn đồ ngọt sẽ không gây ra tác động lâu dài. Tất cả phụ thuộc vào chất lượng chế độ ăn uống tổng thể của chúng ta.
Một bữa sáng giàu protein hoặc axit béo không bão hòa (UFA) có thể làm giảm phản ứng glucose và insulin bằng cách thay thế carbohydrate tạo glucose trong bữa ăn.
Ngoài ra, bữa sáng còn góp phần quan trọng vào lượng chất xơ hằng ngày. Chất xơ không chỉ hỗ trợ hệ vi sinh đường ruột thông qua quá trình lên men ở đại tràng, mà còn giúp làm chậm hấp thu carbohydrate, từ đó ổn định đường huyết và mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe.
Hãy bắt đầu ngày mới với một bữa ăn cân bằng bao gồm protein, chất xơ và chất béo lành mạnh. Protein và chất xơ làm chậm quá trình tiêu hóa và giữ cho lượng đường trong máu ổn định, không lên xuống thất thường như carbohydrate tinh chế nhiều đường.
"Thay vì chọn những bữa ăn tiện lợi nhưng kém lành mạnh, bạn có thể ưu tiên các thực phẩm vừa nhanh gọn vừa tốt cho sức khỏe như trứng, sữa chua Hy Lạp, các loại đậu hạt, ngũ cốc, yến mạch hay bánh mì nguyên cám...", chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo.
Chuyến bay của hãng hàng không Caribbean Airlines đến New York, Mỹ, phải yêu cầu hạ cánh khẩn cấp sau khi một hành khách vỡ ối ngay giữa không trung hôm 4/4, theo NY Post.
Theo đoạn ghi âm từ đài kiểm soát không lưu, em bé cất tiếng khóc chào đời trên chuyến bay mang số hiệu 005 khởi hành từ Kingston, Jamaica, tới New York, Mỹ, khi máy bay đang trong quá trình tiếp cận đường băng của sân bay quốc tế John F. Kennedy (JFK) vào sát giờ trưa. Tình huống bất ngờ khiến các nhân viên kiểm soát mặt đất thích thú, gợi ý cho người mẹ cái tên cho con. "Nhắn với cô ấy rằng phải đặt tên cho bé là Kennedy nhé", một nhân viên nói.
Trước đó, khoang hành khách của chiếc Boeing 737 Max 8 trở thành phòng sinh bất đắc dĩ ngay trên bầu trời, trong khi các phi công nỗ lực liên lạc với các cơ quan chức năng để xin được hạ cánh sớm hơn. Trong đoạn băng ghi âm, phi công báo cáo: "Caribbean 005 xin duy trì độ cao 3.000. Chúng tôi hiện có một hành khách đang chuyển dạ và muốn được bay thẳng đến điểm Zetal".
Ban đầu, nhân viên kiểm soát không lưu nghe nhầm nên hỏi lại xem có phải trên máy bay có "hành khách bị ốm" hay không. Phi công lập tức đính chính: "Chúng tôi có một sản phụ đang chuyển dạ, yêu cầu được dẫn đường bay thẳng". Máy bay sau đó được ưu tiên lộ trình ngắn nhất để tiếp đất, còn các nhân viên y tế cũng túc trực sẵn tại cửa máy bay.
Ngay khi máy bay vừa hạ cánh an toàn, một kiểm soát viên mặt đất đã cất tiếng tiếng chào đón và không quên hỏi thăm tình hình của "vị khách nhí": "Caribbean 005, đây là mặt đất. Bé đã ra đời chưa?". Đáp lại, phi công phấn khởi thông báo bé đã chào đời.
Hiện thông tin chi tiết về tình trạng sức khỏe của hai mẹ con vẫn chưa được tiết lộ. Việc hành khách sinh con trên máy bay từng xảy ra với một số hãng hàng không. Mùa hè năm ngoái, một phụ nữ 29 tuổi người Thái Lan chuyển dạ ở độ cao hơn 10.000 m trên chuyến bay của Air India. Cô sinh một bé trai trước khi máy bay đáp xuống Mumbai và được đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra sức khỏe. Đại diện hãng hàng không khi đó chia sẻ hành khách này vốn định bay nối chuyến về Bangkok nhưng "mẹ thiên nhiên đã có một kế hoạch khác".
Thông thường trẻ sinh trên máy bay sẽ mang quốc tịch theo cha mẹ. Tuy nhiên, nếu em bé chào đời khi máy bay đang bay trên vùng trời của một quốc gia áp dụng luật "quyền nơi sinh" như Mỹ, về mặt pháp lý, em bé có thể lấy quốc tịch của nước đó. Ngoài ra, việc hãng hàng không thuộc quốc gia nào cũng có thể là một căn cứ để xác định quốc tịch cho bé.