Sommaroy là một làng chài nhỏ nằm ở phía bắc Vòng Bắc Cực, cách thành phố Tromso khoảng 36 km. Hòn đảo rộng 0,41 km2 với hơn 300 cư dân với cơ sở hạ tầng khoảng 70 ngôi nhà, một khách sạn, một quán cà phê và một trường học. Thu nhập chính của người dân từ đánh bắt cá và dịch vụ du lịch.
Từ ngày 18/5 đến 26/7 hàng năm, mặt trời tại Sommaroy không lặn. Do trời sáng liên tục, nhịp sinh hoạt của người dân hoàn toàn thay đổi so với thông thường. Họ tổ chức đá bóng lúc 2-3h sáng, trẻ em đi câu cá từ tinh mơ và các cửa hàng mở cửa linh hoạt theo nhu cầu thực tế. Người dân ăn khi đói và ngủ khi mệt, thay vì tuân theo giờ giấc thông thường.
Tại trường học, học sinh có lịch học thay đổi theo thực tế và được nghỉ ngơi khi cần. Các sự kiện cộng đồng như đám cưới, lễ hội cũng thường được tổ chức dựa vào điều kiện thời tiết thay vì ngày tháng trên lịch. Một người dân địa phương cho biết thời gian ở đây chỉ dành cho du khách, còn với họ, đó chỉ là một khái niệm tham khảo.
Bà Marianne Solbakken, 67 tuổi, nói nhịp sống này là thực tế hàng ngày tại Sommaroy. “Người dân có xu hướng ra ngoài làm việc, vui chơi khi mặt trời vẫn tỏa sáng lúc 23h”, bà cho biết.
Ông Halvar Ludvigsen, cư dân thế hệ thứ tư, thường xuyên làm việc vào ban đêm. Những người hàng xóm của ông cũng duy trì thói quen làm việc trên trang trại cả ngày, sau đó đi câu cá và ăn uống vào nửa đêm.
Trái ngược với mùa hè, từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, hòn đảo bước vào chuỗi Đêm Cực (Polar Night) khi mặt trời biến mất dưới đường chân trời. Lúc này, người dân tận dụng bóng tối để quan sát cực quang – cảnh tượng thiên nhiên giúp hòn đảo thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế.
Năm 2019, Sommaroy gây chú ý khi người dân treo hàng chục đồng hồ lên cây cầu dẫn vào đảo để truyền tải thông điệp sống thuận tự nhiên, hướng tới việc trở thành “Khu vực không có thời gian”.
Ông Kjell Ove Hveding, người khởi xướng chiến dịch, cho biết áp lực từ đồng hồ là nguyên nhân gây căng thẳng trong xã hội hiện đại. “Chúng tôi muốn mang lại sự linh hoạt. Người dân có thể sơn nhà lúc 2h sáng hay đi bơi lúc 4h nếu muốn”, ông nói.
Dù chiến dịch này sau đó được truyền thông nhận định là một hình thức quảng bá du lịch hiệu quả của Na Uy, giáo sư Truls Egil Wyller từ Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy cho biết ý tưởng sống không phụ thuộc thời gian vẫn mang lại góc nhìn giá trị. Theo ông, con người mới bị chi phối bởi kỷ luật đồng hồ khoảng hai thế kỷ qua. Trước đó, các thế hệ tổ tiên vốn làm việc, ăn, ngủ theo nhu cầu tự nhiên của cơ thể.
Buổi đối thoại chủ đề "Kể tốt câu chuyện hữu nghị Việt - Trung" trong khuôn khổ chương trình "Hành trình đỏ - Nghiên cứu, học tập của thanh niên" tại Trung Quốc với 192 đại biểu thanh niên, thiếu nhi Việt Nam hiện có mặt tại Trung Quốc.
Anh Vương Tử Triệu - phát thanh viên hạng I, Ủy viên Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Quảng Đông - mở đầu phần chia sẻ bằng chuyến đi đến TP.HCM.
Anh kể trong một lần di chuyển, gặp khó khăn trong việc tìm đường đã gặp một tài xế xe ôm dành hơn một giờ dẫn đường cho anh.
Khi đưa anh đến nơi cần tìm, người này không nhận tiền mà chỉ để lại một câu nói: "Chào mừng đến Việt Nam".
Cũng trong chuyến đi đó, tại một quán cà phê anh tình cờ gặp một ca sĩ người Việt. Hai người bắt đầu trò chuyện và sau đó cùng hát bài Bằng hữu, một bài hát khá nổi tiếng của Trung Quốc. Chỉ với một bài hát quen thuộc, không cần nhiều lời giải thích, khoảng cách giữa hai bạn trẻ Việt - Trung dường như được rút ngắn.
Anh Triệu nói những trải nghiệm này giúp anh ghi nhớ cách thể hiện sự thiện chí trong đời sống thường ngày, từ những hành động cụ thể và trực tiếp.
Cũng lựa chọn cách kể từ những chi tiết nhỏ, chị Chu Anh Thụy, MC Đài phát thanh - truyền hình Quảng Châu, thường kể lại những câu chuyện bạn bè của chị khi đến Việt Nam. Một người lớn tuổi khi biết họ là người Trung Quốc đã chủ động chào bằng tiếng Trung dù chưa thật trôi chảy.
Theo chị, khi kể câu chuyện hữu nghị, điều quan trọng nằm ở lựa chọn cách thể hiện đủ gần để người nghe có thể cảm nhận.
Anh Lê Minh Đức - Bí thư Đoàn Thanh niên Thông tấn xã Việt Nam - nhắc đến những chi tiết thường gặp trong đời sống của thanh niên hai nước như quan tâm đến ẩm thực, phim ảnh hay các hoạt động giao lưu, học tập và làm việc.
Những yếu tố này có thể thành chất liệu xây dựng nội dung truyền thông. Anh Đức cho rằng sự phát triển của AI đang tạo ra nhiều công cụ hỗ trợ người làm báo và sáng tạo nội dung từ sản xuất, phân phối đến cá nhân hóa thông tin.
Các nền tảng số và công nghệ mới có thể được tận dụng để xây dựng những sản phẩm truyền thông phù hợp hơn với thói quen tiếp nhận của người trẻ.
Chị Nguyễn Bích Hà, nhà sáng tạo nội dung số của Schannel Network, bật mí mình có cảm hứng bắt đầu làm video từ nhà sáng tạo nội dung Lý Tử Thất nổi tiếng của Trung Quốc. Chị lựa chọn ghi lại và chia sẻ hình ảnh văn hóa, con người Việt Nam.
Trùng hợp, người bạn quốc tế đầu tiên của chị cũng đến từ Trung Quốc, bắt đầu từ việc xem các video về du lịch, ẩm thực Việt Nam trên nền tảng TikTok. Hai người kết nối từ phần bình luận, sau đó tiếp tục trao đổi và giữ liên lạc.
Từ một video về bánh mì Việt Nam, câu chuyện giữa hai người dần mở rộng sang những nội dung khác về đời sống. Trong những chuyến đi sau đó, chị tiếp tục ghi nhận những trải nghiệm tương tự.
Khi đến khu vực cửa khẩu Hà Khẩu, chị sử dụng Tiểu Hồng Thư - một nền tảng mạng xã hội của Trung Quốc - để tìm kiếm địa điểm và nhận thấy nhiều bạn trẻ Trung Quốc chia sẻ về Việt Nam.
Tại Hoàng Sơn, một chủ quán bánh nướng truyền thống cho biết cửa hàng của ông được nhiều bạn trẻ Việt Nam biết đến qua mạng xã hội.
"Những trải nghiệm này hoàn toàn có thể làm thành các sản phẩm chung giữa nhà sáng tạo nội dung hai nước như video song ngữ, vlog trải nghiệm hoặc các cuộc trò chuyện giữa người trẻ để đăng tải trên các nền tảng quen thuộc", chị Hà nói.
Khoảng 1,3 tỉ người trên thế giới sống với khuyết tật, tức khoảng 16% dân số toàn cầu. Điều tra năm 2023 cho thấy Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (khoảng 6,11% dân số).
Có thể nói số liệu trên đây là một bộ phận không nhỏ trong xã hội song vẫn đang gặp nhiều rào cản trong tiếp cận giáo dục, việc làm, giao thông, dịch vụ công… Rào cản lớn nhất không nằm ở bản thân khuyết tật mà ở môi trường chưa được thiết kế để mọi người cùng tham gia bình đẳng.
Một công trình không có lối đi phù hợp, một trang thông tin không thể truy cập bằng công nghệ hỗ trợ hay một doanh nghiệp từ chối tuyển dụng vì định kiến… tất cả đều là rào cản xã hội, tạo ra khuyết tật về cơ hội với người khuyết tật. Điểm nghẽn lớn nhất hiện nay không phải là thiếu chính sách mà là thiếu cơ chế thực thi hiệu quả và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Muốn xóa bỏ rào cản cần chuyển từ cách làm mang tính phong trào sang cách làm dựa trên chuẩn tiếp cận, có kiểm tra giám sát, có chế tài và có sự tham gia của chính người khuyết tật. Một trong những biểu hiện rõ nhất của rào cản xã hội là khoảng cách về việc làm. Tỉ lệ người khuyết tật trong độ tuổi lao động đang làm việc chỉ khoảng 23,5% (theo số liệu điều tra năm 2023).
Nhiều người khuyết tật không thiếu năng lực nhưng lại thiếu cơ hội tiếp cận. Họ không được đào tạo nghề phù hợp, không được hỗ trợ điều chỉnh môi trường làm việc và thường bị loại khỏi vòng tuyển dụng ngay từ đầu do định kiến.
Tăng cơ hội việc làm cho người khuyết tật không thể dựa vào thiện chí mà phải dựa trên hệ thống chính sách đồng bộ, từ chống phân biệt đối xử đến hỗ trợ doanh nghiệp và dịch vụ việc làm công.
Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong tạo việc làm cho người khuyết tật song chính sách chưa thực sự tạo động lực. Chẳng hạn doanh nghiệp chỉ được hưởng ưu đãi thuế khi có từ 30% trở lên số lao động bình quân trong năm là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác). Đồng thời có quy mô từ 20 lao động trong năm trở lên.
Có những cơ sở đạt tỉ lệ lao động khuyết tật như quy định nhưng vẫn không được hưởng ưu đãi do không đáp ứng điều kiện về quy mô lao động tối thiểu.
Tương tự, doanh nghiệp phải bảo đảm tỉ lệ từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật (hoặc các đối tượng yếu thế khác) mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn giải quyết việc làm cho người lao động. Không ít doanh nghiệp không thể tiếp cận chính sách này do không đạt ngưỡng tỉ lệ lao động là người khuyết tật.
Do vậy yêu cầu đặt ra là điều chỉnh chính sách theo hướng bỏ hoặc linh hoạt hóa điều kiện về quy mô lao động, đặc biệt với cơ sở có tỉ lệ lao động là người khuyết tật cao.
Hoặc thiết kế cơ chế ưu đãi theo hướng lũy tiến hay đa ngưỡng thay vì áp dụng cứng tỉ lệ 30% nhằm ghi nhận cả những doanh nghiệp có đóng góp đáng kể nhưng chưa đạt ngưỡng.
Cần kết hợp đồng thời tiêu chí về tỉ lệ và số lượng tuyệt đối lao động là người khuyết tật, mở rộng hình thức hỗ trợ ngoài thuế như cải tạo nơi làm việc, công nghệ trợ giúp, đào tạo tại chỗ song song với tận dụng mua sắm công và chuỗi cung ứng.
Kinh nghiệm khu vực châu Á - Thái Bình Dương cho thấy các quốc gia thành công thường kết hợp nhiều công cụ: ưu đãi, hỗ trợ kỹ thuật, cơ chế trách nhiệm và cả áp lực thị trường.
Ông Bryan Williams, 63 tuổi, nhân viên chăm sóc tại gia ở bang Wisconsin đang nhận mức lương 17,65 USD mỗi giờ. Thu nhập thấp buộc ông phải đắn đo phân bổ tiền thuê nhà, hóa đơn và nhu yếu phẩm. "Tôi biết mọi thứ đang tồi tệ hơn vì cảm nhận được nó mỗi ngày", ông nói.
Bà Vernice Thompson, 63 tuổi, nhân viên bán lẻ tại bang Virginia cho biết chi phí nhà ở đang chiếm một nửa thu nhập dù có trợ cấp an sinh xã hội. Trong khi đó, giá hàng hóa từ thực phẩm đến quần áo đều tăng cao khiến bà khó có khả năng chi trả.
Câu chuyện của ông Williams và bà Thompson phản ánh tình trạng chung tại Mỹ hiện nay. Theo khảo sát công bố hồi tháng 2 của J.D. Power, 65% người tiêu dùng Mỹ cho biết mức tăng giá cả đang vượt quá mức tăng thu nhập.
Dữ liệu do Cục Thống kê Lao động Mỹ công bố ngày 10/4 cho thấy lạm phát đã tăng từ 2,4% trong tháng 2 lên 3,3% vào tháng 3. Giá xăng tăng 21,2% do xung đột Trung Đông là một trong những lực đẩy chính. Tính lũy kế theo chỉ số giá tiêu dùng CPI, giá cả tại Mỹ đã tăng khoảng 16% trong 4 năm qua. Trong khi đó, mức tăng thu nhập thực tế theo giờ của người lao động chỉ đạt 1,4% trong năm qua, không đủ để cải thiện khả năng mua sắm.
Lạm phát thể hiện rõ trên từng hóa đơn siêu thị. Cục Thống kê Lao động Mỹ ghi nhận một vỉ trứng 12 quả có giá trung bình 1,51 USD vào năm 2020 nay đã tăng lên hơn 3,1 USD. Giá một gallon sữa tươi từ 3,3 USD lên gần 4 USD. Cùng với đó, giá thuê nhà trung bình đã tăng thêm ít nhất 300 USD mỗi tháng so với 4 năm trước, neo ở mức trên 1.600 USD.
Sự chênh lệch này khiến người lao động nghèo đi, buộc họ phải cắt giảm cả những nhu cầu cơ bản. Dữ liệu từ CNBC chỉ ra khoảng 50% người Mỹ đang trì hoãn mua sắm quần áo, đồ gia dụng. Các dịch vụ khác cũng bị cắt giảm: 42% giảm chi cho chăm sóc cá nhân, 22% bỏ thẻ tập thể dục và 14% ít gọi xe dịch vụ. 39% hộ gia đình phải dùng thẻ tín dụng thanh toán hàng tạp hóa do cạn kiệt tiền mặt.
Tính đến quý IV/2025, nợ hộ gia đình Mỹ đạt 18.800 tỷ USD, tăng 4% so với năm trước đó. Riêng nợ thẻ tín dụng chạm mốc kỷ lục 1.280 tỷ USD.
Chuyên gia hoạch định tài chính Gregory Guenther tại New Jersey cho biết ngay cả nhóm thu nhập cao cũng cảm nhận được chi phí sinh hoạt tăng. "Vấn đề không phải là mọi người kiếm được ít tiền hơn, mà là giá trị đồng tiền không còn mua được nhiều thứ như trước", chuyên gia nhận định.
Nhóm lao động phổ thông chịu ảnh hưởng mạnh nhất. Theo báo cáo, tiền lương thực tế của nhóm 10% thu nhập thấp nhất đã giảm 0,3% trong năm 2025. Mức lương tối thiểu liên bang 7,25 USD mỗi giờ vẫn giữ nguyên từ năm 2009.
Bà Crystal Franklin, 54 tuổi, chuyên viên tại Virginia kể gia đình bà phải bỏ các khoản chi giải trí, cắt giảm mua thực phẩm và chuyển sang đi xe buýt nhằm bù đắp chi phí xăng xe. "Chúng tôi không thể làm những việc từng làm vì phí sinh hoạt đã tăng quá cao", bà Franklin nói.