“Ngày trước, tôi cũng có suy nghĩ ‘có rất nhiều môn khác có thể rèn luyện khả năng tư duy, bắt trẻ con học lắm Toán làm gì, sao không dạy nhẹ nhàng như phương Tây?’. Nhưng, có một biến cố xảy đến với sức khỏe của mẹ tôi khiến tôi thay đổi hoàn toàn cách nhìn nhận về giá trị của việc học nói chung và môn Toán nói riêng.
Ban đầu, mẹ tôi nằm điều trị tại một bệnh viện quốc tế – nơi y bác sĩ rất tận tình phục vụ. Nhưng sức khỏe của bà ngày càng đi xuống. Nằm viện hai tuần với chi phí 11 triệu đồng một ngày mà bác sĩ chưa tìm được nguyên nhân bệnh. Cuối cùng, tôi được một người bạn khuyên nên chuyển về viện công để bác sĩ đầu ngành chữa trị. Chỉ ba ngày sau, mẹ tôi dần khỏe lại và được về nhà sinh hoạt như bình thường.
Rõ ràng, các bác sĩ được đào tạo chính quy tại các trường đại học Y công lập của Nhà nước (được học chuyên sâu kiến thức Toán, Hóa, Sinh) vẫn là một sự khác biệt rất lớn. Thứ đất nước cần là những bác sĩ giỏi, có thể bắt đúng bệnh cho bệnh nhân và cho thuốc đúng loại, chứ không chỉ cần những người giỏi diễn thuyết, đọc Tiếng Anh vanh vách.
Thực tế, có nhiều người giàu lên do buôn bán, làm nghệ thuật, nhờ đầu cơ bất động sản… Đúng là họ cũng rất thành công mà không cần học nhiều Toán, Lý, Hóa, tôi không hề phản bác điều đó. Nhưng nếu ai cũng chỉ chăm chăm đi buôn, đầu cơ chờ thời thì xã hội này sẽ đi về đâu khi ngành sản xuất thiếu chất xám, không có công nghệ lõi, khi bác sĩ không biết nên chữa cho bệnh nhân như thế nào mà chỉ biết phục vụ truyền nước, đạm, cơm bưng nước rót, thay vì bắt đúng bệnh, kê đúng thuốc.
>> ’25 năm ra trường không biết ứng dụng kiến thức Toán vào đâu’
Đó là chia sẻ của độc giả Linh xung quanh những tranh cãi về giá trị của việc học Toán ở bậc phổ thông. Trong nhiều năm qua, việc dạy và học Toán ở bậc phổ thông luôn là một chủ đề gây ra không ít tranh luận. Có ý kiến cho rằng chương trình Toán hiện nay quá nặng, thiên về lý thuyết và chưa gắn chặt với thực tiễn, khiến học sinh dễ cảm thấy áp lực và xa rời ý nghĩa ứng dụng. Ngược lại, cũng có quan điểm nhấn mạnh vai trò cốt lõi của Toán học trong việc rèn luyện tư duy logic, khả năng lập luận và nền tảng cho nhiều lĩnh vực khoa học – công nghệ.
Nhấn mạnh việc đầu tư thời gian và công sức để học Toán ở bậc phổ thông mang lại nhiều giá trị thiết thực, không chỉ trong học tập mà còn trong cuộc sống lâu dài, bạn đọc Linh kết lại: “Nói như vậy để thấy, môn nào cũng quan trọng, vấn đề là mỗi người có tôn trọng nó hay không mà thôi? Bạn học không giỏi, không sử dụng đến kiến thức Toán sau khi đi làm, nhưng không có nghĩa là người khác cũng vậy. Có thể lĩnh vực họ làm cần nhiều chất xám hơn bạn, vậy thôi.
Tôi từng làm việc tại một công ty FDI, thấy một thực tế là các kỹ sư Việt Nam hầu như chẳng thiết kế được gì cho sản phẩm. Toàn bộ bản thiết kế đều từ nước ngoài chuyển về. Chúng ta chỉ làm theo mẫu có sẵn, gia công lại… Doanh thu hàng tháng vì thế phải trích một phần không nhỏ để chuyển về cho công ty mẹ ở nước ngoài dưới hình thức tiền bản quyền. Chất xám từ Toán nằm ở đó chứ ở đâu?”.
Một người bạn của tôi đã quyết định dọn về quê, gom góp số tiền vài tỷ đồng tích góp trong hơn chục năm làm việc ở thành phố để làm một homestay nhỏ. Lý do rất đơn giản: Không chịu nổi giá nhà và nhịp sống ngột ngạt nơi đô thị.
Lý do khác quan trọng và có vẻ lo xa hơn: Về quê đầu tư để có đồng ra đồng vào, chứ gom hết tiền và đi vay thêm để mua nhà thành phố, sau này về già vẫn phải kiếm gì đó làm thêm để có thu nhập.
Sau mấy chục năm sống ở thành phố, hành lý của anh vẫn gọn gàng đến lạ vì cái gì cho được đã cho, cái gì bán được đã bán, nhà thuê thì trả chủ. Nhưng sâu xa hơn, đó là cảm giác không thuộc về nơi này, dù đã ở hơn chục năm, có nhiều kỷ niệm vui buồn.
Từ câu chuyện đó, tôi cho rằng việc ở thuê, ít nhất trong bối cảnh Việt Nam hiện nay không phải là một lựa chọn bền vững. Không chỉ là vấn đề tâm lý an cư lạc nghiệp vốn ăn sâu trong văn hóa, mà còn bởi thị trường cho thuê của chúng ta chưa thực sự phát triển đúng nghĩa, thiếu ổn định, thiếu bảo vệ người thuê, và thiếu cả những sản phẩm phù hợp với đại đa số người lao động.
Trong khi đó, giá nhà thì vẫn tiếp tục leo thang. Dữ liệu gần đây cho thấy giá căn hộ tại TP.HCM đã lên đến trung bình hơn 97 triệu đồng một m2, riêng khu trung tâm vượt 100 triệu đồng m2. Ở thị trường thứ cấp, con số trung bình cũng đã chạm ngưỡng khoảng 69 triệu đồng một m2, trong khi nhu cầu tìm mua lại tăng mạnh.
Tôi thấy có một lập luận thường được đưa ra: Nếu không mua được nhà thì thuê cũng không sao. Lập luận này nghe qua có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ đúng với một nhóm nhỏ. Người có thu nhập cao, tài chính dư dả, có thể thuê để linh hoạt cho công việc. Sinh viên hay người lao động ngắn hạn cũng vậy, thuê nhà là lựa chọn phù hợp.
Nhưng còn đại đa số người lao động làm việc lâu dài tại thành phố thì sao?
Họ không thể sống mãi trong trạng thái tạm bợ. Một gia đình không thể xây dựng cuộc sống ổn định nếu cứ vài năm lại chuyển nhà, đối mặt với nguy cơ tăng giá thuê hoặc bị chấm dứt hợp đồng bất cứ lúc nào. Nói cách khác, thuê nhà không phải là một giải pháp thay thế, mà chỉ là một giải pháp tình thế.
Vấn đề nằm ở chỗ phân khúc nhà ở phù hợp với họ gần như biến mất. Những căn hộ thương mại giá 2-3 tỷ đồng từng là mục tiêu có thể với tới của tầng lớp trung lưu giờ gần như tuyệt chủng. Thị trường bị lấp đầy bởi các dự án cao cấp, giá 4-5 tỷ đồng trở lên. Với mức thu nhập phổ biến hiện nay, đó là khoảng cách gần như không thể vượt qua.
Vậy chúng ta đang kỳ vọng gì? Rằng một bộ phận lớn người lao động sẽ chấp nhận đi thuê suốt đời? Và khi về già, với thu nhập giảm sút, họ sẽ tiếp tục xoay xở thế nào với chi phí nhà ở ngày càng cao?
Đó không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà là một vấn đề an sinh xã hội.
Nếu không thể kiểm soát giá nhà trong ngắn hạn, thì một hướng đi rõ ràng hơn là phát triển mạnh nhà ở xã hội. Nhà ở xã hội không nên bị xem là một giải pháp mang tính "cứu trợ", mà phải được nhìn nhận như một phần thiết yếu của cấu trúc thị trường.
Một đô thị bền vững cần có chỗ cho những người lao động bình thường. Câu chuyện của người bạn tôi rời thành phố không phải là cá biệt. Nếu không có những thay đổi rất có thể sẽ còn nhiều người khác đưa ra lựa chọn rời đi.
Huỳnh Thắng
Trước đây, mỗi lần nhận thiệp cưới, tôi thường thấy vui vì có dịp gặp gỡ, chung vui cùng bạn bè, người quen. Nhưng vài năm trở lại đây, cảm giác đó dần thay đổi, nhất là với những đám cưới tổ chức ở nhà hàng. Tôi vẫn đi, vẫn mừng, nhưng trong lòng lại có một cảm giác khó gọi tên nhưng lặp đi lặp lại sau mỗi lần tham dự.
Mỗi lần dự tiệc cưới ở nhà hàng, nhìn thực đơn thì rất "hoành tráng", tên món nào cũng kêu, nhưng khi dọn ra thì khẩu phần ít, chất lượng lại không như kỳ vọng. Trong khi đó, giá mỗi bàn tiệc lại không hề rẻ. Tôi hay nói đùa với bạn bè rằng "bỏ phong bì mừng cưới 500 K nhưng trước mỗi lần đi ăn cưới vẫn phải tranh thủ ăn cho no bụng vì không kiểu gì cũng đói".
Không chỉ là chuyện món ăn, cách tổ chức tiệc cưới ở nhà hàng giờ cũng có nhiều điều bất cập. Một bàn tiệc thường có 10 khách, và không ít lần tôi phải ngồi chung với những người hoàn toàn xa lạ. Không khí vì thế cũng trở nên gượng gạo, ai cũng cắm cúi ăn cho xong phần của mình. Còn bạn bè thân thiết thì đôi khi lại bị xếp mỗi người một bàn do không đến cùng lúc.
>> 'Cảm giác như mua vé dự tiệc khi nhận thiệp cưới in mã QR'
Chưa kể, mọi thứ diễn ra quá nhanh, như một dây chuyền được lập trình sẵn cũng làm mất đi cái vui của đám cưới. Từ lúc khách vào đến khi cô dâu chú rể xuất hiện, rồi hai họ phát biểu, nâng ly... tất cả đều theo một kịch bản quen thuộc đến mức tôi có thể đoán trước từng bước. Đám cưới nào cũng giống đám cưới nào, gói gọn trong hai tiếng đồng hồ. Cảm giác vì thế cũng nhạt dần, thay vào đó là sự nhàm chán.
Tôi nhớ những đám cưới ngày trước, dù đơn giản hơn, nhưng lại có cảm giác gần gũi. Khách đến không chỉ để ăn mà còn để trò chuyện, chia sẻ niềm vui với gia đình hai bên. Còn bây giờ, nhiều đám cưới khiến tôi có cảm giác như đang tham dự một sự kiện được "đóng gói", nơi mọi thứ phải nhanh, gọn, đúng giờ, nhưng lại thiếu đi sự kết nối.
Có thể với nhiều người, tổ chức ở nhà hàng là lựa chọn hợp lý: tiện lợi, đỡ vất vả, không phải lo toan nhiều. Tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng ở góc độ một người đi dự, tôi vẫn thấy tiếc cho ý nghĩa của một ngày đáng lẽ phải ấm áp và đáng nhớ.
"Em trai tôi học đại học ngành Y. Đến lúc em ra trường, ba mẹ tôi đã chi gần 1 tỷ. Sau khi tốt nghiệm, em xin vào một bệnh viện tuyến huyện, nhờ người quen nên cũng tốn thêm khoảng 200 triệu nữa, tổng cộng vốn bỏ ra hơn 1,2 tỷ. Bảy năm trước, số tiền ấy có thể mua một lô đất gần nhà, nhưng vì lo cho em ăn học, nên gia đình tôi không mua. Giờ mảnh đất đó đã lên giá gần 3 tỷ, trong khi lương của em mỗi tháng chỉ khoảng 7-8 triệu. Biết là đầu tư cho tương lai, nhưng đôi khi tôi vẫn không khỏi chạnh lòng, vừa thương vừa tiếc".
Đó là băn khoăn của độc giả TéngƠi xung quanh câu chuyện chi phí cho một sinh viên bằng cả năm tiền lương bình quân. Dữ liệu của Bộ Nội vụ cho biết thu nhập bình quân của người lao động năm 2025 là 8,31 triệu đồng mỗi tháng. Trong khi thống kê sơ bộ học phí và các chi phí khác cho thấy một sinh viên tiêu tốn không dưới 100 triệu đồng mỗi năm. Thực tế đó đặt ra nhiều lo ngại về hệ lụy nếu sinh viên ra trường không đáp ứng được yêu cầu công việc.
Nói về chi phí học đại học ngày càng đắt đỏ, bạn đọc Mq.bkcomp bình luận: "100 triệu một năm phải bỏ ra để đại học, tức bốn năm tiêu tốn ít nhất 400 triệu. Trong khi đó, sinh viên ra trường may mắn có việc làm, lương giỏi lắm được 10 triệu. Cứ cho là mỗi tháng họ bỏ ra được 2 triệu, thì phải mất 200 tháng (gần 17 năm), tính cả lãi suất thì phải mất tới 25 năm mới hoàn vốn. Vậy học đại học là lỗ hay lãi đây?".
>> Kinh nghiệm bán hàng thuê, làm web dạo giúp tôi trúng tuyển công ty nước ngoài
Nhấn mạnh giải pháp cho câu chuyện chi phí đại học, độc giả Thanhbinhptxd chia sẻ: "Thực trạng chi phí học đại học 100 triệu một năm nhưng ra trường chạy xe ôm là hệ quả của một vòng lặp sai lầm giữa tư duy sính bằng cấp và áp lực tự chủ tài chính của các trường đại học.
Khi đại học tự chủ tài chính, sinh viên trở thành nguồn thu. Để duy trì bộ máy, nhiều trường hạ thấp tiêu chuẩn, tuyển sinh ồ ạt bằng mọi giá. Ngược lại, nhiều gia đình coi đại học là con đường duy nhất để đổi đời mà không tính toán đến năng lực và nhu cầu thị trường. Sự gặp gỡ giữa hai tư duy 'đại' này tạo ra những tấm bằng cử nhân nhưng thiếu kỹ năng thực tế.
Học phí 400-500 triệu đồng cho bốn năm học là con số khổng lồ với một gia đình lao động. Nếu đầu tư sai chỗ, đó sẽ là một thảm họa tài chính. Trong khi đó, tấm bằng đại học bị rẻ rúng khi chất lượng đào tạo không tương xứng, dẫn đến tình trạng 'thừa thầy thiếu thợ' trầm trọng.
Vậy giải pháp cho vấn đề này là gì?
Thứ nhất, cần bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đầu ra đại học khắt khe. Ngành nào tỷ lệ thất nghiệp cao hoặc lương thấp kéo dài phải bị cắt giảm chỉ tiêu hoặc đóng cửa.
Thứ hai, nhà trường phải gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp để đào tạo cái thị trường cần, không phải cái trường có.
Cuối cùng, người học cũng cần tỉnh táo thoát khỏi cái bẫy 'phải vào đại học bằng mọi giá'. Nếu lực học trung bình, hãy chọn học nghề chất lượng cao. Đầu tư vào kỹ năng thực tế luôn sinh lời nhanh hơn một tấm bằng lý thuyết suông. Đại học không phải là nơi 'trú ẩn' của sự lười biếng hay định hướng mơ hồ. Khi giáo dục trở thành hàng hóa đắt đỏ, người học phải là nhà đầu tư thông minh, còn nhà trường phải là nhà sản xuất có trách nhiệm".