PGS.TS Nguyễn Quang – Chủ tịch Hội Y học giới tính Việt Nam – cho rằng có một “thế giới vô hình” đang âm thầm chi phối sức khỏe sinh sản và sinh lý của nam giới, nhưng lâu nay ít được chú ý đó là hệ vi sinh vật trong cơ thể.
Theo ông, trong cơ thể mỗi người tồn tại hàng nghìn tỉ vi sinh vật, đặc biệt tập trung ở đường ruột. Không chỉ hỗ trợ tiêu hóa, hệ vi sinh này còn ảnh hưởng đến nhiều chức năng quan trọng, bao gồm cả chất lượng tinh trùng, nồng độ testosterone và khả năng sinh lý nam.
Theo PGS Nguyễn Quang, trong nhiều thập kỷ, y học từng cho rằng cơ quan sinh dục nam như tinh hoàn, tuyến tiền liệt hay tinh dịch là môi trường vô khuẩn. Tuy nhiên với sự phát triển của công nghệ giải trình tự gene, quan điểm này đã thay đổi.
Các nghiên cứu hiện nay cho thấy những cơ quan này đều có hệ vi sinh riêng, tạo thành một “hệ sinh thái” đặc thù. Hệ vi sinh này không chỉ tồn tại mà còn tham gia trực tiếp vào các hoạt động sinh lý, từ sản xuất tinh trùng đến chức năng cương dương.
PGS Nguyễn Quang cho biết thực tế lâm sàng cho thấy không ít cặp vợ chồng vô sinh dù kết quả xét nghiệm truyền thống đều bình thường. Có người đàn ông bị rối loạn cương dương nhưng được cho là do yếu tố tâm lý. Tuy nhiên khi nhìn sâu hơn, nhiều trường hợp có sự khác biệt rõ rệt ở hệ vi sinh đường ruột hoặc trong tinh dịch.
“Những gì được gọi là ‘tâm lý’ đôi khi lại có nền tảng sinh học, và nền tảng đó có thể bắt đầu từ hệ vi sinh”, ông Quang chia sẻ.
Một số nghiên cứu cho thấy trong tinh dịch khỏe mạnh thường có sự hiện diện của các vi khuẩn “có lợi” như Lactobacillus hay Bifidobacterium. Ngược lại, khi hệ vi sinh mất cân bằng, các vi khuẩn có hại có thể gia tăng, đi kèm với tình trạng giảm chất lượng tinh trùng hoặc tăng tổn thương DNA tinh trùng.
Trong báo cáo khoa học “Vô sinh ở nam giới và hệ vi sinh vật đường ruột của con người” do nhóm tác giả Hoa Kỳ công bố cho thấy dữ liệu khoa học cũng ghi nhận phần lớn mẫu tinh dịch ở nam giới đều có vi khuẩn, nhưng không phải cứ có vi khuẩn là gây bệnh.
Vấn đề nằm ở sự cân bằng. Khi cân bằng này bị phá vỡ, nguy cơ viêm nhiễm, stress oxy hóa và tổn thương tinh trùng có thể tăng lên.
Nghiên cứu cho thấy khoảng 30 – 50% trường hợp vô sinh nam hiện nay vẫn chưa tìm được nguyên nhân rõ ràng. Một trong những giả thuyết được quan tâm là vai trò của hệ vi sinh, thông qua cơ chế gây viêm hoặc làm tăng stress oxy hóa, yếu tố có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tinh trùng.
Các nhà khoa học cũng chỉ ra rằng hệ vi sinh không chỉ là vấn đề của riêng nam giới mà còn liên quan đến cả hai vợ chồng. Quan hệ tình dục có thể làm thay đổi hệ vi sinh của cả nam và nữ, từ đó ảnh hưởng đến khả năng thụ thai.
Một số nghiên cứu cho thấy khi cả hai cùng có tình trạng mất cân bằng vi sinh, tỉ lệ thành công của thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) có thể giảm, trong khi nguy cơ sẩy thai tăng lên.
Theo các chuyên gia, việc đánh giá hệ vi sinh có thể trở thành một bước quan trọng trong chẩn đoán vô sinh nam trong tương lai. Thay vì chỉ dựa vào tinh dịch đồ hay xét nghiệm nội tiết, bác sĩ có thể cần xem xét thêm yếu tố vi sinh để có cái nhìn toàn diện hơn.
Bên cạnh đó, các biện pháp điều chỉnh hệ vi sinh như thay đổi chế độ ăn uống, sử dụng men vi sinh hoặc kết hợp điều trị nhiễm khuẩn cũng đang được nghiên cứu như những hướng tiếp cận tiềm năng.
Tuy nhiên, giới chuyên môn cũng nhấn mạnh rằng lĩnh vực này vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu quy mô lớn trên người để khẳng định rõ vai trò và hiệu quả của các can thiệp.
Theo các chuyên gia, thay vì chỉ tập trung vào từng cơ quan riêng lẻ, cách tiếp cận mới coi cơ thể là một hệ thống liên kết, trong đó vi sinh vật đóng vai trò như “đồng đội” của con người.
“Có thể câu trả lời cho nhiều trường hợp vô sinh hoặc rối loạn sinh lý không nằm ở những nơi chúng ta vẫn tìm kiếm lâu nay, mà nằm ở hệ vi sinh”, PGS Nguyễn Quang nhận định.
Theo các chuyên gia, việc hiểu và chăm sóc tốt hệ vi sinh, thông qua lối sống lành mạnh, dinh dưỡng hợp lý và hạn chế các yếu tố gây hại có thể là cách để giúp cải thiện sức khỏe sinh sản nam giới trong tương lai.
Chiều 9/4, đại diện Sở Y tế TP HCM cho biết các học sinh có triệu chứng đau bụng, nôn ói, sốt, rối loạn tiêu hóa. Bệnh viện Nhân dân Gia Định tiếp nhận nhiều nhất với 27 ca, trong đó 5 em đã xuất viện, 22 em còn điều trị.
Trạm Y tế phường Bình Quới tiếp nhận hai ca nhẹ nên cấp thuốc và cho về theo dõi tại nhà. Bệnh viện Nhi Đồng 2 tiếp nhận 4 ca, một trường hợp đã lấy mẫu xét nghiệm xác định nguyên nhân, hiện chưa có kết quả.
Bệnh viện Đa khoa Bình Thạnh tiếp nhận 20 ca, chủ yếu tình trạng ổn định và điều trị ngoại trú, một trường hợp đang được theo dõi tại phòng cấp cứu.
BS.CKI Phạm Thị Hoàng Oanh, Phó trưởng điều hành Khoa Nhi Tổng hợp, Bệnh viện Nhân dân Gia Định, cho biết phần lớn bệnh nhi được chuyển lên từ khoa cấp cứu. Triệu chứng chung là sốt cao liên tục khó hạ, đau bụng quặn từng cơn, cơ thể đừ nhiều, ăn uống kém kèm theo nôn ói và tiêu chảy liên tục.
"Các bé nhập viện đều có tình trạng nhiễm trùng tiêu hóa với mức độ trung bình đến nặng", bác sĩ nói. Kíp điều trị đã truyền kháng sinh và bù dịch ngay khi tiếp nhận, song một số trường hợp diễn tiến chưa ổn định, chưa thể ăn uống, còn mệt.
Một phụ huynh đang chăm con 7 tuổi nằm viện, cho biết bé học bán trú và ăn uống tại trường ngày 7/4. Tan học, bé uống thêm hộp sữa trước khi đi học thêm buổi tối. Khoảng 2-3h sáng 8/4 bé nôn ói, tiêu chảy và sốt, uống thuốc không giảm, sáng 9/4 được đưa vào viện. Hiện bé vẫn còn mệt, sốt và tiêu chảy, chưa rõ nguyên nhân gây triệu chứng bất thường.
Sở Y tế TP HCM yêu cầu các bệnh viện theo dõi sát, điều trị theo hướng dẫn và lấy mẫu xét nghiệm xác định tác nhân, đồng thời thông tin cho Sở An toàn thực phẩm TP HCM để kịp thời xử lý.
Cơ quan này cũng chỉ đạo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM phối hợp với các đơn vị liên quan và Trường Tiểu học Bình Quới Tây điều tra dịch tễ, lấy mẫu xét nghiệm nhằm làm rõ nguyên nhân. Hiện chưa kết luận trẻ ngộ độc do ăn món gì và ăn ở đâu.
Lãnh đạo nhà trường cho hay ngay đầu giờ sáng 8/4 nhiều học sinh khối 1-3 đã có biểu hiện mệt, sốt. Cả ngày có hơn 100 lượt học sinh xuống phòng y tế, hơn 40 em nôn ói, đau bụng. Do triệu chứng xuất hiện từ đầu giờ sáng, khi chưa ăn trưa tại trường, chưa thể khẳng định nguyên nhân do suất ăn bán trú, đồng thời không loại trừ khả năng từ thức ăn bên ngoài hoặc nguồn nước.
Trường đã dừng tổ chức ăn bán trú, mẫu thức ăn ngày 7-8/4 được gửi xét nghiệm, dự kiến có kết quả ngày 14/4.
"Ung thư tuyến giáp đang trở thành một vấn đề nổi lên trong hệ thống y tế, không phải vì tỷ lệ tử vong cao, mà vì sự gia tăng nhanh chóng về số ca mắc và những thách thức trong quản lý hợp lý", TS Nguyễn Trọng Khoa, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết tại hội thảo Cập nhật phương pháp điều trị, đánh giá tổn thương do ung thư tuyến giáp và liệu pháp hormone, hôm 4/4 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc.
Việt Nam ghi nhận khoảng 6.100–6.200 ca mắc mới ung thư tuyến giáp, 850–900 trường hợp tử vong mỗi năm. Căn bệnh đứng trong top 10 ung thư phổ biến, đặc biệt ở nữ giới. Tỷ lệ nữ mắc bệnh cao gấp khoảng 3-4 lần nam giới.
Đặc biệt tỷ lệ mắc tăng nhanh trong 20 năm qua. Ví dụ tại TP.HCM, tăng từ 2,4 lên 7,5/100.000 dân (1996–2015), với tốc độ tăng trung bình khoảng 8,7%/năm. Mới nhất, tại Bệnh viện Ung Bướu TP HCM năm 2025, ung thư tuyến giáp chiếm 23% trong hơn 42.000 ca mới, tiếp theo là ung thư vú (18,1%).
"Đây là một trong những mức tăng nhanh nhất trong các loại ung thư", ông Khoa nói, thêm rằng khác với các ung thư như gan, phổi hay dạ dày, ung thư tuyến giáp có những đặc điểm rất đặc biệt. Tỷ lệ mắc tăng nhanh nhưng tử vong thấp, là ung thư có tiên lượng tốt nhất trong nhiều loại ung thư với tỷ lệ sống 5 năm trên 90% nếu phát hiện sớm.
Theo các nghiên cứu quốc tế, sự gia tăng tỷ lệ mắc chủ yếu do tăng phát hiện, không phải tăng thực sự bệnh lý. Ví dụ, tại Hàn Quốc, chỉ trong vòng 10 năm, tỷ lệ chẩn đoán ung thư tuyến giáp đã tăng 15 lần với hơn 40.000 người được phát hiện, tuy nhiên, không có khác biệt về số tử vong.
TS Dương Đức Bình, Bệnh viện K Tân Triều, cũng nhìn nhận thực trạng gia tăng nhanh chóng số ca phát hiện bướu giáp nhân, chủ yếu nhờ sự phổ biến của siêu âm độ phân giải cao. Tuy nhiên, thách thức hiện nay không còn nằm ở việc phát hiện, mà là làm sao phân biệt chính xác tổn thương lành tính và ác tính, từ đó tránh tình trạng chẩn đoán và điều trị quá mức.
Trong điều trị, xu hướng nổi bật hiện nay là chuyển từ "cắt toàn bộ tuyến giáp" sang tiếp cận cá thể hóa. Nhiều trường hợp ung thư tuyến giáp biệt hóa giai đoạn sớm có thể chỉ cần cắt thùy thay vì cắt toàn bộ, giúp giảm biến chứng, bảo tồn chức năng tuyến giáp và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh. Đồng thời, chiến lược theo dõi chủ động cũng đang được áp dụng cho một số trường hợp ung thư nguy cơ thấp.
Trong lĩnh vực y học hạt nhân, TS Bình cho biết, việc sử dụng I ốt 131 (I-131) hiện nay không còn mang tính đại trà mà được chỉ định dựa trên phân tầng nguy cơ. Bệnh nhân nguy cơ thấp thường không cần điều trị I-131, trong khi nhóm nguy cơ trung bình và cao sẽ được cân nhắc liều lượng phù hợp nhằm tối ưu hiệu quả và giảm tác dụng phụ.
Đáng chú ý, khoảng 5 - 15% bệnh nhân có thể tiến triển thành ung thư tuyến giáp kháng I-131 – một thách thức lớn trong điều trị. Với nhóm này, các liệu pháp nhắm trúng đích, đặc biệt là các thuốc ức chế tyrosine kinase, đang mở ra hướng điều trị mới, dựa trên phân tích đột biến gen như BRAF hay RET để cá thể hóa phác đồ. Bên cạnh đó, Việc phối hợp giữa chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh, phẫu thuật và y học hạt nhân trong các Hội đồng Ung thư được xem là chìa khóa để đưa ra quyết định điều trị tối ưu cho từng bệnh nhân.
TS Khoa cho biết thêm Bộ Y tế xác định rõ ung thư tuyến giáp không phải là ưu tiên giảm tử vong, mà là ưu tiên quản lý hợp lý, tránh lạm dụng y tế. Cần chuyển từ "phát hiện càng nhiều càng tốt" sang "phát hiện đúng – điều trị đúng – quản lý phù hợp". Thời gian tới, Bộ Y tế định hướng giảm tỷ lệ phẫu thuật không cần thiết, giảm chỉ định siêu âm tràn lan, chuẩn hóa 100% cơ sở ung bướu áp dụng phân tầng nguy cơ, xây dựng hướng dẫn quốc gia cập nhật theo quốc tế và tăng tỷ lệ quản lý ngoại trú, theo dõi dài hạn.
Sau đây, một bác sĩ chuyên khoa thận sẽ đưa ra lời khuyên chăm sóc sức khỏe thận, nhất là đối với bệnh nhân thận - trong thời tiết nắng nóng kéo dài.
Bác sĩ Anupam Roy, Phó trưởng Khoa Thận học và Ghép thận tại Aakash Healthcare (Ấn Độ), chia sẻ:
Giữ đủ nước là một trong những nguyên tắc quan trọng hàng đầu. Vào mùa hè, cơ thể đổ mồ hôi nhiều hơn, làm tăng nguy cơ mất nước. Việc bổ sung đủ nước sẽ giúp thận đào thải độc tố hiệu quả. Một cách kiểm tra đơn giản là quan sát màu nước tiểu: nếu nước tiểu có màu nhạt là dấu hiệu cơ thể đã đủ nước, còn nếu sẫm màu, bạn cần bổ sung thêm chất lỏng, theo tờ Times of India.
Đồng thời, ông cũng đưa ra một số lời khuyên giúp bảo vệ thận trong thời tiết nắng nóng:
Bổ sung thực phẩm giàu nước: Bên cạnh việc uống đủ nước, nên tăng cường các thực phẩm giàu nước trong chế độ ăn hằng ngày. Các loại trái cây và rau củ như dưa chuột, dưa hấu không chỉ giúp cấp nước mà còn cung cấp nhiều dưỡng chất cần thiết.
Kiểm soát lượng muối: Giảm lượng muối trong khẩu phần ăn là điều rất quan trọng đối với sức khỏe thận. Ăn mặn có thể làm tăng huyết áp - một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bệnh thận. Vì vậy, cần hạn chế thực phẩm chế biến sẵn và đồ ăn nhanh.
Tránh mất nước khi tập luyện: Dù trời nóng, việc duy trì vận động vẫn cần thiết. Tuy nhiên, nên chọn thời điểm tập luyện phù hợp như sáng sớm hoặc chiều muộn để hạn chế mất nước do đổ mồ hôi nhiều khi tiếp xúc trực tiếp với nắng gắt.
Thận trọng khi dùng thuốc giảm đau: Việc sử dụng thuốc giảm đau thường xuyên có thể gây tổn thương thận. Trong tình trạng mất nước, nguy cơ này càng tăng cao. Vì vậy, nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
Lắng nghe tín hiệu của cơ thể: Cơ thể thường phát ra những cảnh báo sớm. Nước tiểu sẫm màu, lượng nước tiểu giảm hoặc các dấu hiệu bất thường khác có thể cho thấy thận đang gặp vấn đề. Nhận biết sớm những triệu chứng này sẽ giúp phòng tránh các biến chứng nghiêm trọng.
Tuân thủ những khuyến nghị đơn giản trên có thể giúp duy trì sức khỏe và chức năng của thận trong những ngày nắng nóng.