Mục Lục
ToggleNgày 10.4, UBND P.Hoành Bồ tổ chức hội nghị công bố Quy hoạch 1/500 và triển khai giải phóng mặt bằng Dự án Nhà máy điện gió Quảng Ninh 1.
Theo quy hoạch, dự án có quy mô nghiên cứu khoảng 92,54 ha, với công suất thiết kế 200 MW, thuộc nhóm các dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn trên địa bàn tỉnh. Hệ thống dự kiến lắp đặt 32 tuabin gió, mỗi tuabin công suất khoảng 6,25 MW, chiều cao cột trụ khoảng 130 m.
Đáng chú ý, nhà máy dự kiến đạt sản lượng điện khoảng 600 triệu kWh/năm, hệ số công suất khoảng 35%, góp phần bổ sung nguồn điện sạch, ổn định cho hệ thống điện quốc gia.
Dự án do Liên danh Công ty CP tập đoàn đầu tư xây dựng Cường Thịnh Thi và Công ty CP EA Súp 5 làm chủ đầu tư.
Quy hoạch chi tiết 1/500 xác định rõ các vị trí lắp đặt trụ turbine, hệ thống hạ tầng kỹ thuật phụ trợ và hành lang an toàn, đảm bảo tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.
Bên cạnh vai trò cung cấp điện, dự án còn góp phần tạo việc làm, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực Hoành Bồ và vùng lân cận, đồng thời nâng tỷ trọng năng lượng tái tạo trong cơ cấu nguồn điện của tỉnh Quảng Ninh.
Ngay sau khi quy hoạch được duyệt, P.Hoành Bồ đã ban hành Kế hoạch về việc thu hồi đất, điều tra khảo sát đo đạc và kiểm đếm thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho phần diện tích thuộc địa giới của phường. Cụ thể, dự án sẽ ảnh hưởng đến diện tích đất tại các khu phố: Cài, Khe Lèn, Vườn Cau, Vườn Rậm, Đồng Bé, Đồng Vang và Trại Me.
Việc phê duyệt dự án điện gió quy mô lớn này được đánh giá là bước đi quan trọng trong lộ trình phát triển năng lượng sạch, hướng tới mục tiêu giảm phát thải và phát triển bền vững của Quảng Ninh trong giai đoạn tới.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/quang-ninh-phe-duyet-nha-may-dien-gio-200-mw-185260410155655799.htm

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.

Ngân hàng (NH) TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) thông báo từ hôm nay 21.4, các giao dịch chuyển khoản liên ngân hàng có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên chỉ được xử lý theo luồng chuyển khoản thường theo quy định. Các hệ thống NH trực tuyến của Eximbank không thực hiện việc tự động chia/tách giao dịch để xử lý qua Napas 247. Trường hợp khách hàng có nhu cầu chuyển tiền nhanh có thể chủ động thực hiện nhiều giao dịch riêng biệt với mỗi giao dịch có giá trị dưới 500 triệu đồng.
Trước đó, một số NH như VPBank, TPBank… cũng có thông báo tương tự. Chẳng hạn, khi khách hàng của VPBank chuyển khoản liên NH với số tiền giao dịch từ 500 triệu đồng trở lên, hệ thống sẽ tự động xử lý theo luồng chuyển khoản thường với thời gian xử lý ít nhất 4 giờ. Nếu trễ giờ hành chính, giao dịch sẽ hoàn tất vào ngày làm việc kế tiếp… Các NH cho biết việc dừng tính năng tự động chia nhỏ lệnh chuyển khoản này là để tuân thủ quy định tại Thông tư 40/2024 của NH Nhà nước (NHNN) về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (đã được sửa đổi, bổ sung) cùng các văn bản liên quan. Điều này đồng nghĩa nếu khách hàng chuyển khoản online trên 500 triệu đồng/lần thì người nhận không thể thấy tiền ngay lập tức như trước đây mà phải ít nhất sau 4 giờ mới nhận được. Trường hợp khách hàng chuyển khoản cuối ngày thì phải qua ngày hôm sau người nhận mới thấy tiền. Thậm chí, nếu khách hàng chuyển khoản trực tuyến trên 500 triệu đồng vào cuối ngày thứ sáu thì đến thứ hai tuần sau mới nhận được tiền; nếu chuyển khoản vào ngày nghỉ lễ thì sau khi NH hoạt động trở lại mới nhận được tiền…
Trên thực tế, một số NH không thông báo cụ thể nhưng trên ứng dụng NH Mobile Banking (app), hạn mức chuyển khoản cũng đã ghi rõ dưới 500 triệu đồng/lần. Ví dụ trên app của Vietcombank, hạn mức tối đa cho cá nhân chuyển tiền nhanh qua tài khoản hay qua thẻ được ghi ở mức 499,99 triệu đồng/lần và một số trường hợp khác thì tối đa là 500 triệu đồng/lần. Như vậy, khách hàng buộc phải chủ động chia nhỏ các giao dịch thành mức dưới 500 triệu đồng/lần để được xử lý tức thời, tương ứng mỗi giao dịch sẽ đều phải thực hiện thao tác sinh trắc học theo quy định. Điều này khác với trước đây khi hầu hết NH có tính năng tách lệnh chuyển tiền, chia thành nhiều món nhỏ với chỉ 1 lần sinh trắc học. Tính năng này giúp giao dịch chuyển tiền trực tuyến được xử lý qua luồng chuyển mạch của Napas để người nhận có tiền ngay (bất kể ban đêm hay ngày nghỉ).
Theo đánh giá chung từ các NH, việc hạn chế chuyển khoản nhanh với các giao dịch có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên nhằm mục tiêu kiểm soát dòng tiền, tăng minh bạch, đồng thời hạn chế rủi ro, ngăn các vụ lừa đảo tiền trong tài khoản lớn như đã từng xảy ra thời gian qua.
Mặc dù hiểu về quy định của NHNN nhằm góp phần gia tăng bảo mật, phòng ngừa rủi ro trong thanh toán NH, nhưng một số khách hàng vẫn cho rằng điều này gây bất tiện khi có nhu cầu chi tiêu. Chị Thanh An (P.Bảy Hiền, TP.HCM) cho biết nhiều năm trước đây khi chị mua nhà thì chuyển khoản cọc lên đến 1 tỉ đồng và chỉ thực hiện thanh toán online là xong. Nhưng mới đây chị phải chia nhỏ lệnh ra đến 3 lần, mỗi lần đều phải xác thực sinh trắc học bằng khuôn mặt mà có khi phải làm đi làm lại cả chục lần cho mỗi đợt chuyển khoản. Để chuyển khoản xong 1 tỉ đồng, chị mất gần cả giờ đồng hồ. Theo chị, trong các app NH đều có dịch vụ tự cài đặt hạn mức cho một lần chuyển tiền và cho tổng số tiền chuyển khoản trong một ngày. Bình thường chị cũng cài hạn mức giao dịch thấp để tránh rủi ro, nhưng đến khi có việc cần thì sẽ cài đặt lại hạn mức cao nhất để chuyển khoản nhanh; vì vậy khi NH chỉ giới hạn dưới 500 triệu đồng/lần thì cũng khá bất tiện.
Chuyên gia tài chính, TS Nguyễn Trí Hiếu cho rằng giới hạn số tiền chuyển khoản cho từng lần ở mức dưới 500 triệu đồng là thấp, nhất là trong bối cảnh các cá nhân có nhiều hoạt động khác ngoài chi tiêu thông thường như kinh doanh online. Thời gian gần đây, NHNN đã có nhiều giải pháp để nâng cao tính bảo mật của hệ thống NH, đảm bảo an toàn cho hệ thống như thực hiện sinh trắc học với các giao dịch chuyển khoản trên 10 triệu đồng/lần hay đưa Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) vào vận hành đã giúp ngăn chặn nhiều giao dịch lừa đảo. Hệ thống này cho phép các tổ chức tín dụng chia sẻ dữ liệu tài khoản nghi ngờ theo thời gian thực, từ đó kịp thời ngăn chặn hoặc yêu cầu xác thực bổ sung đối với các giao dịch rủi ro. Chính vì vậy, có thể xem xét nâng hạn mức giao dịch chuyển khoản online lên cao hơn, có thể đến 2 tỉ đồng/lần. Quan trọng nhất là tại các app của NH đã cho cài đặt hạn mức chuyển tiền online nên khách hàng sẽ chủ động sử dụng theo nhu cầu của mình.
Ngược lại, TS Đinh Thế Hiển, Viện trưởng Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng, ủng hộ việc hạn chế số tiền chuyển khoản online từng lần. Bởi dù những năm gần đây hệ thống NH đã ứng dụng số rất mạnh, nhưng khi công nghệ phát triển, lừa đảo trực tuyến cũng ngày càng tăng và nhiều người dân vẫn bị mất tiền khi chuyển khoản online do bị lừa đảo. Có những khách hàng lớn tuổi vì nhiều lý do như không theo kịp công nghệ, quên thực hiện các nguyên tắc bảo mật… khi thanh toán online vẫn bị mất tiền. Chính vì vậy vẫn cần phải có hạn mức dưới 500 triệu đồng/lần để góp phần hạn chế rủi ro cho người dân.
"Quy định này sẽ gây bất tiện cho một số người, làm chậm tốc độ thanh toán nhưng cũng là cần thiết trên mặt bằng chung. Tuy nhiên quy định có thể thay đổi sau một thời gian nữa, khi công nghệ số thay đổi mạnh hơn, cũng như ý thức đảm bảo an toàn bảo mật của người dân nói chung gia tăng", TS Đinh Thế Hiển chia sẻ.
Đồng quan điểm, chuyên gia bảo mật Ngô Minh Hiếu cũng cho rằng đây là một biện pháp tốt, dù chắc chắn sẽ tạo ra một phần bất tiện cho người dùng trong ngắn hạn. Ở nhiều nước, xu hướng cũng là chấp nhận "chậm hơn một chút để an toàn hơn". Ông Hiếu ví dụ như Anh cho phép NH trì hoãn thanh toán đáng ngờ thêm 72 giờ để kiểm tra và áp dụng cơ chế đối chiếu tên người nhận trước khi chuyển tiền. Dù vậy, cách hợp lý hơn là áp dụng kiểm soát theo rủi ro như đối với giao dịch lớn, người nhận mới, giao dịch bất thường thì xác thực mạnh hơn, cảnh báo rõ hơn và kiểm tra kỹ hơn. Trường hợp khách hàng đã định danh tốt, người nhận tin cậy, lịch sử giao dịch sạch thì có thể xem xét cơ chế linh hoạt hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

Thông tư 40 miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực giao thông vận tải. Cụ thể miễn phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không (trừ phí thẩm định cấp giấy phép ra vào khu vực hạn chế tại cảng hàng không, sân bay) quy định tại biểu mức thu phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không ban hành kèm theo Thông tư số 193/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí, lệ phí trong lĩnh vực hàng không.
Miễn phí, lệ phí hàng hải đối với tàu thuyền vào, rời khu vực hàng hải quy định tại chương III Thông tư số 261/2016 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định về phí, lệ phí hàng hải và biểu mức thu phí, lệ phí hàng hải được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 90/2019 và Thông tư 74/2021.
Miễn phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam quy định tại khoản 1 điều 4 Thông tư 39/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí, lệ phí áp dụng tại cảng, bến thủy nội địa.
Miễn phí sử dụng kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia do nhà nước đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 điều 3 Thông tư số 11/2026 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, chế độ thu, nộp phí thuộc lĩnh vực đường sắt.
Thông tư 40 có hiệu lực thi hành từ ngày 7.4 đến 30.6. Từ ngày 1.7, các khoản phí, lệ phí quy định trên sẽ thực hiện hiện theo quy định tại các thông tư được viện dẫn và các văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế (nếu có).
Ngoài ra, không áp dụng mức thu phí thẩm định cấp chứng chỉ, giấy phép, giấy chứng nhận trong hoạt động hàng không dân dụng, phí đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tàu bay, phí trình báo đường thủy nội địa đối với phương tiện thủy nội địa hoạt động giữa các cảng, bến thủy nội địa của Việt Nam tương ứng tại số thứ tự 3 và 10 điều 1 Thông tư số 64/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu, miễn một số khoản phí, lệ phí nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp, người dân từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành đến hết ngày 30.6.

